Top 9 Bài văn so sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Đồng chí” của Chính Hữu (lớp 12) hay nhất

03-08-2021 9 1 0 0

Báo lỗi

Cùng lựa chọn người lính trong kháng chiến là điểm nhấn trung tâm trong sáng tác của tớ nhưng mỗi nhà thơ lại có cách xây dựng hình tượng nhân vật không giống nhau. Để cảm nhận rõ hơn về nét độc đáo riêng biệt cũng như điểm gặp gỡ giữa Quang Dũng và Chính Hữu, mời những bạn xem thêm một số bài văn so sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” hay nhất mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

123456789

1


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 1

Giai đoạn năm 1945-1975 sau khi cách mạng tháng tám thành công cũng là lúc nền văn học với đề tài “lực lượng vũ trang – chiến tranh cách mạng” nở rộ với nhiều những tác giả, tác phẩm đắt giá, phản ánh cả một thời đại hào hùng của dân tộc. Trong số đó nổi trội nhất là hình tượng người lính chiến với đủ mọi sắc thái, cung bậc cảm xúc trong những hoàn cảnh chiến đấu cực kì gian khổ và ác liệt. Ở họ luôn ánh lên những vẻ đẹp rực rỡ, hào hùng mang tính sử thi. Bên trong cái vỏ bọc xơ xác, mỏi mệt qua những chặng đường hành quân khúc khuỷu, những trận sốt rét rừng kinh hoàng là cả một tinh thần thép, sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Những cây bút mang bước ra từ chiến trường luôn để lại cho đời những vần thơ về người lính và trận chiến đầy chân thực và sâu sắc.

Bên cạnh những cái tên như Hoàng Trung Thông, Phạm Tiến Duật, Hữu Loan, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Tố Hữu, Huỳnh Văn Nghệ, Trần Mai Ninh, Hoàng Cầm, thì Chính Hữu và Quang Dũng là hai nhà thơ có những khắc họa rõ nét nhất về hình tượng người lính chiến. Nếu như Chính Hữu viết về một người lính xuất thân nông dân, ra đi từ làng quê nghèo với những nét vẽ chân thực trong Đồng Chí, thì trong Tây Tiến Quang Dũng lại viết về người lính tới từ thủ đô với những nét vẽ lãng mạn, bay bổng.

Về nét chung thì cả Đồng chí và Tây Tiến đều được sáng tác vào năm 1948, những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, với bối cảnh là khu chiến trường miền tây-bắc khắc nghiệt và hoang sơ. Trước hoàn cảnh khó khăn của trận chiến cả Chính Hữu và Quang Dũng đều có những cảm xúc về hình tượng người lính anh hùng, kiên định vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, với vẻ đẹp mang khuynh hướng sử thi. Đặc biệt với xuất thân là người lính trực tiếp bước ra từ chiến trường đầy máu và lửa thì những vần thơ của hai tác giả khi nói về hình tượng người lính chiến lại càng trở thành chân thực và rõ nét hơn cả. Chính điều đó đã khiến người lính trong Đồng chí và cả Tây Tiến trở thành những tượng đài bất hủ trong nền văn học chiến tranh cách mạng với những nét chung như trên và những nét riêng đặc sắc khác.

Ngoài những điểm chung trên thì ở mỗi tác phẩm hình tượng người lính lại hiện lên với những vẻ đẹp riêng biệt đại diện cho tài năng và phong thái sáng tác của mỗi tác giả. Trước hết ta nói về Tây Tiến và Quang Dũng. Quang Dũng được mệnh danh là người nghệ sĩ đa tài với khả năng ở nhiều lĩnh vực như âm nhạc, hội họa và thi ca và với mỗi lĩnh vực như thế ông cũng lại tạo cho mình một dấu ấn riêng nhất định. Đặc biệt trong sáng tác thơ, Quang Dũng luôn đưa vào những vần thơ của tớ chất nhạc chất họa một cách tinh ý để vừa tái hiện được hơi thở của một con người bước ra từ chiến trường nóng hổi, vừa để cho thơ mình có một vẻ lãng mạn, hào hoa rất riêng. rất có thể nói rằng Tây Tiến là tiêu biểu cho những tác phẩm mang khuynh hướng sử thi phối hợp chặt chẽ với cảm hứng lãng mạn – khuynh hướng thẩm mỹ chính của văn học nước nhà giai đoạn 1945-1975. Quang Dũng là một nhà thơ có tâm hồn lãng mạn và lữ đoàn Tây Tiến cũng như thế, bởi hầu hết họ đều xuất thân từ thủ đô Thành Phố Hà Nội thân yêu, ra đi vì tiếng gọi của Tổ Quốc với hành trang còn thơm mùi giấy mực.

Ở những người lính Tây Tiến, luôn có một vẻ đẹp hào hoa, nó xuất phát từ tinh thần của những con người có học, những người được tiếp xúc với nền giáo dục mới, và được sống ở nơi phồn hoa đô hội. Nói chính xác thì họ được xem là những phần tử tiểu tư sản trí thức, với tư tưởng phóng khoáng, đặc biệt họ lại là những thanh niên tuổi còn trẻ, đang còn phơi phới giấc mộng xuân, nên việc mơ về một “dáng kiều thơm” là chuyện rất đỗi thường tình. Đặc biệt trước cái hoàn cảnh chiến đấu khắc nghiệt, với những cơn sốt rét rừng kinh hoàng, với những cung đường hành quân khúc khuỷu, chập chùng thì những thú vui nho nhỏ khi nghĩ về cố hương, khi nghĩ về những thứ lãng mạn lại đúng là động lực to lớn để họ có thêm sức mạnh chiến đấu. Về bối cảnh chiến đấu, Tây Tiến có phần khác Đồng chí ở chỗ, đoàn quân Tây Tiến được xây dựng năm 1947 để phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới vùng tây-bắc và đánh tiêu hao lực lượng địch. vậy cho nên địa bàn hoạt động của lữ đoàn cực kì rộng trải dài khắp vùng tây-bắc, sang cả Sầm Nưa của Lào, rồi vòng về miền tây Thanh Hóa. Chính bởi địa bàn hoạt động rộng lớn, nên hoàn cảnh những năm đầu của cuộc kháng chiến cực kì khắc nghiệt, giữa một vùng rừng thiêng nước độc, người lính Tây Tiến luôn phải đối mặt với nhiều nguy hiểm và khó khăn cận kề. Nào là:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống”

rồi “Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”. Có những lúc hành quân trong sương muối buốt lạnh, người sau chỉ thấy lưng người đằng trước cũng đôi lần khiến người lính mệt mỏi, ngao ngán nhưng đương nhiên không vì thế mà họ buông xuôi. Đặc biệt, không trận chiến nào mà không tồn tại sự hy sinh mất mát, những năm đầu kháng chiến, toàn bộ quân nhu yếu phẩm đặc biệt là thuốc men đều cực kì khan hiếm. vậy cho nên những cơn sốt rét rừng trở thành ác mộng của người lính chiến, họ không chết vì bom đạn giặc thù mà chết vì bệnh tật hành hạ. Hình ảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/Gục lên súng mũ bỏ quên đời”, đọc sơ cứ tưởng người lính nằm ngủ trên súng mũ, nhưng hóa ra đó là một chiếc chết, một chiếc chết nhẹ tựa lông hồng, chết bên lý tưởng mà họ vẫn theo đuổi, vẫn ôm trọn súng mũ vào lòng, chết không nuối tiếc.

Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp rất lạ và rất đặc trưng, nó là sự phối hợp của sự hào hùng, bất khuất kiên trì với lại sự lãng mạn và hào hoa tới từ sâu trong tâm hồn những con người trẻ tuổi. Chính sự giao hòa giữa hai yếu tố cương, nhu ấy đã đem về một hình tượng người lính rất thật, rất độc đáo và sâu sắc là bức tường thành của nền văn học Việt Nam hiện đại. Trước tiên nói về sự hào hùng, dữ dội trong dáng vẻ, ngoại hình, người lính Tây Tiến không tồn tại một dáng vẻ sạch sẽ, cao to mà thay vào đó là những người lính với cái đầu “không mọc tóc”, với “quân xanh màu lá”. Một màu da xanh xám vì căn bệnh sốt rét hành hạ quá lâu, kèm vì vậy là thiếu máu khiến tóc rụng bằng sạch. Vì điều kiện hành quân gian khổ, không được ăn ngủ đủ giấc, vì chiến trường căng thẳng và ác liệt nên người lính chiến mới có bộ dạng tiêu điều, xơ xác như vậy.

Thế nhưng trong cái bộ dạng kỳ dị ấy lại là sự dữ dội và oai hùng mà theo như cách nói của Quang Dũng là họ cố tình “không mọc tóc” để bản thân càng thêm ghê gớm, làn da xanh tái phối hợp với màu quân trang lại là sự ngụy trang hoàn hảo nhất, phối hợp với cái đầu không tóc cho phát hành một đội nhóm quân “dữ oai hùm” giữa chốn rừng thiêng nước độc, để kẻ thù thấy mà thêm phần e ngại. không chỉ là vậy, trải qua ngoại hình kỳ dị của người lính Tây Tiến, ta lại càng thấu hiểu hơn những hy sinh, mất mát cùng với tinh thần chiến đấu kiên trì, vượt qua mọi gian khổ khó khăn, bởi cái mà họ đối mặt không chỉ là đơn giản là bom đạn giặc thù, mà còn là điều kiện chiến đấu cực kì khắc nghiệt, lằn ranh sinh tử trở thành cực kì mong manh và họ buộc phải trở thành cứng rắn mạnh mẽ để vượt qua, đề hoàn thành lý tưởng cách mạng. Bên cạnh vẻ hào hùng, dữ dội trong ngoại hình, thì nổi trội nhất ở người lính Tây Tiến đúng là ý chí chiến đấu, lý tưởng cách mạng mang đậm khuynh hướng sử thi.

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Vẫn biết rằng ra đi là không hẹn ngày quay về, thế nhưng người lính chiến vẫn vẫn chưa từng có ý nghĩa sâu sắc lùi bước. Họ sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất cuộc đời, tuổi hai mươi mấy là lứa tuổi mà con người ta có nhiều nỗi do dự trăn trở nhất, còn đối với những anh thì chỉ có một nỗi buồn duy nhất ấy là Tổ quốc vẫn chưa yên. vậy cho nên chiến trường trở thành nơi những anh hướng tới, lòng những anh chỉ ngập tràn một lý tưởng cách mạng, cái chết dẫu là sợ hãi nhưng đứng trước Tổ quốc yêu thương đang vẫy gọi, thì nó Hình như không thể quan trọng nữa. Mảnh đất này đã sinh ra và nuôi lớn những anh, vậy cho nên những anh phải có nghĩa vụ phụng sự và bảo vệ nó bằng bất kể giá nào, kể cả phải hy sinh tính mạng, những anh cũng chẳng hề nuối tiếc. Với phong thái thơ của Quang Dũng thì hình tượng người lính chiến với sự hy sinh, mất mát đau thương, nhưng không hề bi lụy, thay vào đó là cảm xúc bi tráng, hào hùng. Với những vần thơ rất hay, rất trang trọng:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ..

Áo bào thay chiếu anh về đất”

Câu thơ tựa như cảnh xông pha trận mạc rồi hy sinh của những tráng sĩ thời cổ đại, với vẻ đẹp kiêu hùng, anh dũng cực kì. Quang Dũng là một người lính xuất sắc, cũng là người may mắn sống sót sau những trận chiến ác liệt và những trận sốt rét rừng khủng khiếp. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc ông phải chứng kiến cảnh hàng loạt đồng đội ngã xuống trên đất mẹ và cả trên đất khách, điều kiện thiếu thốn đến mức manh chiếu bó thay cũng không tồn tại đủ. Đau xót là thế nhưng bước vào thơ Quang Dũng, với tinh thần lãng mạn và lạc quan, ông không để sự bi thương chi phối quá mức, thay vào đó cái chết của người lính chiến lại được tác giả đưa vào thơ với vẻ oanh liệt, anh hùng bất tử. Cái chết để cả núi sông phải gầm lên “khúc độc hành” tiễn đưa thay cho kèn, trống tầm thường.

Hình tượng người lính trong thơ Quang Dũng mà quên đi những nét hào hoa, lãng mạn thì quả là một thiếu sót lớn, và không hoàn chỉnh. Bên cạnh những lúc hành quân khắc khổ, những trận chiến ác liệt, những đợt rét buốt của sương muối, của bệt tật thì người lính cũng có thể có những lúc được thả lỏng. Đó là những lúc:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự khi nào

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Người lính thể hiện tinh thần yêu đời, yêu cuộc sống khi say mê nhảy múa quanh đống lửa, say mê ánh nhìn nụ cười của những cô nàng trẻ, say mê cả điệu nhạc rộn ràng, vui tươi. Đó đúng là thực chất tâm hồn của người lính Tây Tiến, những con người đã từ bỏ áo trắng, mực xanh lên đường ra chiến tuyến nhưng vẫn chưa khi nào từ bỏ cái tâm hồn bay bổng, đầy mơ mộng. Và nó cũng đúng là tuổi trẻ, một tuổi trẻ có những khát khao về tình yêu, sự ham vui, ưa sôi động để làm giàu cho cuộc sống. Chính những Điều này đã nuôi dưỡng một tâm hồn kiên trì và mạnh mẽ khi chiến đấu, tiếp sức cho người lính những lúc tưởng chừng quá mệt mỏi và gục ngã. không chỉ là trong những giây phút nghỉ ngơi, đặt doanh trại mà cả trong những lúc chiến đấu, hành quân, người lính chiến cũng trong mình tâm hồn lãng mạn, hào hoa.

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng kiều thơm”

Những đêm không ngủ chờ giặc trên đất khách, lòng người chiến sĩ trẻ tuổi lại hướng về quê nhà yêu dấu, nơi thủ đô ấy có gia đình, có bè bạn, trường lớp và có cả những “dáng kiều thơm”. Cũng cần nhắc lại rằng, trước đây cũng chỉ vì hai câu thơ có phần quá lãng mạn và nghiêng về tình cảm cá nhân này mà một thời gian dài Tây Tiến bị xa lánh, bị cô lập. Nhưng từ sau năm 1986, với những đổi mới trong chủ trương chính sách của nhà nước về văn hóa nghệ thuật, thì Tây Tiến đã được trả về với đúng vị trí mà nó xứng đáng có được. Và hai câu thơ trên cũng trở thành điểm nhấn quan trọng của cả bài thơ, phản ánh rất chân thực đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm của người lính trong chiến đấu. Họ còn trẻ, họ có quyền được mưu cầu hạnh phúc, và những cô nàng mang áo dài, với dáng vẻ yêu kiều, nền nã đúng là mơ ước của họ. những anh hy sinh tuổi trẻ, hy sinh mạng sống để lên lên đường đi chiến đấu trước hết là vì lý tưởng cách mạng, vì Tổ quốc, nhưng bao hàm Trong số đó còn là vì lợi ích cá nhân, vì bảo vệ hạnh phúc của riêng họ nữa. Chung quy lại, sự phối hợp giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong Tây Tiến của Quang Dũng đã dựng lên một tượng đài người lính chiến bất hủ, mang vẻ đẹp của thời đại và sống mãi trong trái tim người đọc.

Đó là Tây Tiến với Quang Dũng, còn với Đồng chí của Chính Hữu, có lẽ chúng ta sẽ có ít điểm để phân tích hơn, bởi hình tượng người lính ở thơ Chính Hữu nó mang vẻ chân thực đến khắc nghiệt, và nổi trội lên trên đó là tình đồng chí gắn kết sâu nặng trong chiến đấu. Chính Hữu không đề cập nhiều đến vẻ đẹp tâm hồn mà thay vào đó ông đi sâu và hoàn cảnh xuất thân và hoàn cảnh chiến đấu đầy gian khổ của họ để làm nổi trội vẻ đẹp anh hùng. Trước hết nói về xuất thân, Chính Hữu và đồng đội đều là những người con của mảnh đất miền trung đầy nắng và gió:

“quê nhà anh nước mặn, đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Cuộc sống nghèo khó, kham khổ. rất có thể nói nếu người lính trong Tây Tiến là phần tử tiểu tư sản trí thức thì trong thơ Chính Hữu, người lính lại là những người nông dân áo vải, bước vào chiến trường với bàn tay quen cuốc, quen cày, quen ruộng lúa, con trâu. Hoàn cảnh chiến đấu cũng có thể có nhiều nét tương đương với người lính Tây Tiến, đó là vùng rừng núi Việt Bắc nhiều khắc nghiệt “rừng hoang sương muối”, sự hiện diện kinh hoàng của những cơn sốt rét rừng với “từng cơn ớn lạnh/Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. rất có thể nói rằng khác với vẻ lãng mạn của Quang Dũng, thì Chính Hữu lại thích đi sâu vào mô tả những cảm nhận trong thực tiễn của cơn sốt rét, những nỗi vất vả, mệt nhọc của người lính trước bệnh tật, thể hiện được vẻ đẹp tâm hồn tới từ sự chân chất, giản dị của người lính nông dân trong chiến đấu. giống như, về ngoại hình người lính, Chính Hữu cũng rất trong thực tiễn khi viết:

“Áo anh rách nát vai, quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá chân không giày”

Để phản ánh điều kiện chiến đấu đầy thiếu thốn và gian khổ, từ đó làm nổi trội lên sự kiên trì, mạnh mẽ của người lính trong chiến đấu. Về nét đẹp tâm hồn, có lẽ phản ánh rõ nhất trải qua tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn của người lính chiến. Họ cùng nhau chiến đấu, cùng nhau cảm nhận cái khốn khổ của cơn sốt rét rừng, cùng cảm nhận được sự thiếu thốn, nguy hiểm trong chiến đấu, cũng biết từng trận rét cắt da cắt thịt của vùng núi rừng tây-bắc. Và quan trọng hơn cả họ luôn kề vai sát cánh, sẵn sàng sống chết bên nhau. Tình đồng chí tới từ sự tương đương về hoàn cảnh xuất thân, từ những lần hành quân chiến đấu, từ những lần sống chết bên nhau trên chiến trường, chiến tranh càng làm sâu đậm thêm tình đông đội. Từ sa trường ấy, đã tạo ra nên một thứ tình cảm quý giá không thể phai mờ – tình đồng chí, đồng đội.

Đối với mỗi hình ảnh người lính trong hai bài thơ ta đều rất có thể nhận thấy được những vẻ đẹp riêng biệt, một bên là sự hào hùng lãng mạn, một bên là sự kiên trì, trong thực tiễn. toàn bộ những vẻ đẹp riêng ấy đã tổng hòa lại, làm nên hình tượng người bộ đội cụ Hồ anh dũng, bất tử trong lòng độc giả và trong lòng của toàn dân tộc Việt Nam mãi về sau.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 2

Hình tượng anh Vệ quốc quân – Người lính Cụ Hồ – được khắc họa đậm nét trong nhiều bài thơ của nhiều tác giả. Ở giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, hình tượng người lính trong những bài thơ có sức hấp dẫn, cổ vũ và với vẻ đẹp riêng, nét riêng nổi trội thể hiện trong cảm hứng. “Đồng chí” của Chính Hữu, chủ yếu là cảm hứng hiện thực giữa cảnh và người; “Tây tiến” của Quang Dũng phát triển cảm hứng lãng mạn nhằm khắc họa nét phi thường, kỳ vĩ, hùng tráng của người lính.

“Tây tiến” quan niệm người anh hùng theo lý tưởng thẩm mỹ cổ trang, truyền thống; còn “Đồng chí” tô đậm nét hiện thực, bình dị, sự lam lũ, chất phác của người nông dân chân chất hiền lành, không tồn tại ý định làm anh hùng hoặc để được tôn vinh là anh hùng. Họ tìm thấy sức mạnh ở đồng chí, đồng đội, ở một tình cảm thiêng liêng, cao quý và mới mẻ trong những người nông dân được giác ngộ trở thành người lính.

Trong thơ Quang Dũng và thơ Chính Hữu nói riêng, có sự “đổi ngôi” của cái “Tôi” trữ tình. Cái “Tôi” trong thơ ca là một khái niệm “kép”, gồm có 2 bình diện: một là cái “Tôi” với tư cách là chủ thể nhận thức, hoạt động tư duy, và hai là cái “Tôi” đối tượng cảm thụ với vai trò khách thể. Trong thơ kháng chiến nói chung, cái “Tôi” cơ bản ở bình diện quan sát, nhận thức, rung cảm với cuộc sống lớn. Điều đó tạo ra nét mới trong thơ, thơ rộng mở trong hơi thở cuộc sống, tắm mình trong không khí thời đại, sự giao hòa này tạo cho thơ thêm đa dạng, phong phú.

Chân dung tinh thần người lính trong “Tây tiến” mang nét hoành tráng, kỳ vĩ, bí hiểm nổi trội trong bối cảnh hoang sơ, dữ dội, nghiệt ngã và cũng cực kì mơ mộng trong không gian cụ thể của vùng núi tây-bắc:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Bằng bốn câu thơ nhưng hiện lên một bức tranh toàn cảnh với rất đầy đủ đủ nét hoang vu, heo hút, dữ dằn và cực kì hiểm trở trên chặng đường hành quân của người lính Tây tiến. Một loạt những từ giàu giá trị tạo hình mang tính hội họa, với những mảng hình khối, đường nét, màu sắc “Dốc lên khúc khuỷu” rồi lại “Dốc thăm thẳm”; những từ láy “heo hút”, “thăm thẳm”, “khúc khuỷu” như những nét chạm khắc đặc sắc tạo thành những ấn tượng về dốc cao, vực sâu. Cả những thanh trắc tả chiều cao khi leo lên và những thanh bằng gợi khoảng không gian khi leo xuống: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

Trong nguy hiểm thử thách không đè bẹp nổi ý chí, nghị lực, sức sống của người lính Tây tiến, nét đẹp của họ một phần cũng đúng là chỗ đó. Vẫn sống mãi với thời gian ấn tượng mãnh liệt không phai bạc, mờ nhòa theo năm tháng:

Tây tiến những đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Quang Dũng khéo lựa cách nói, có tóc rụng, có da xanh của anh lính ốm (ốm nhưng không yếu) nhưng không mất đi dáng vẻ kiêu bạc, anh hùng, vẫn phong thái “dữ oai hùm” giữa chốn sơn cùng thủy tận. trong cả sự “ra đi” cũng rất nhẹ nhàng của những anh hùng hào hoa, mã thượng: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Ba lần nói về sự hy sinh trong những hoàn cảnh không giống nhau của người lính “Tây tiến” nhưng không một lần như nhiều nhà thơ vẫn dùng từ “hy sinh” hoặc “chết”. Quang Dũng bằng ngòi bút tài hoa sử dụng những cụm từ “hồn về”, “bỏ quên đời”, “về đất” giản dị hơn, nhằm tự nhiên hóa, bình thường hóa cái chết, đúng theo quan niệm lý tưởng của học viên, sinh viên cầm súng thời kỳ đầu kháng chiến, còn hừng hực hào khí.

Với bút pháp lãng mạn, cốt cách tài hoa và phong độ hào hùng của chiến sĩ – thi sĩ trên cả hai bình diện tác giả và tác phẩm, Quang Dũng đã tạc bằng ngôn ngữ thi ca vào lịch sử, hình tượng người lính Vệ quốc anh hùng. Mang nét riêng, người lính Vệ quốc trong “Đồng chí” của Chính Hữu bình dị trong nghĩ suy mà “sâu sắc đến giật mình” (Xuân Diệu). vật liệu hiện thực cuộc sống được đưa vào thơ vừa đủ tạo men say cảm xúc và nâng tầm khái quát.

Cách mạng Tháng Tám không chỉ là phục sinh một dân tộc, khai sinh một thời đại, tân tạo những bảng thang giá trị tinh thần, mà còn trả lại cho từng người cuộc sống mới; kiến tạo những quan hệ mới, tình cảm mới vẫn chưa hề có trong lịch sử, trong văn hóa ứng xử của xã hội. Đó là tình đồng chí đồng đội. Chính quan hệ mới, tình cảm mới này tạo thành những vẻ đẹp khác trong chân dung tinh thần người lính Vệ quốc.

Không kỳ dị “đoàn binh không mọc tóc”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” như trong thơ Quang Dũng. Người lính Vệ quốc trong thơ Chính Hữu cực kì bình dị, hiền lành, chất phác. Bức tranh về hai người vệ quốc được phác thảo bằng vật liệu cuộc sống đồng quê, trên nền “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” của những người có cùng cảnh ngộ; từ những vùng nông thôn không giống nhau trên nhiều miền vương quốc có chung cảnh nghèo. Những người nông dân đồng cảnh, đồng cảm nên đồng tâm, đồng chí trong chọn lựa mục đích góp sức, chiến đấu. Mở đầu bài thơ là sự gặp gỡ của hai người đồng cảnh:

quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Sự tương đương về hoàn cảnh tạo thành cộng hưởng trong tình cảm gắn bó:

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Nhưng cái khốn khó, nghèo khổ của những con người ở những vùng miền không giống nhau không vì vậy mà hèn kém (nghèo nhưng không hèn), tức là không bị cái cảnh nghèo gò bó, câu thúc, người nông dân vượt lên số phận, vượt lên cảnh ngộ, ở trên tầm khốn khó bước vào trận chiến.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, người lính Vệ quốc hầu hết thoát thai từ nông dân, trong hành trang người lính mang theo có cái nghèo đeo đẳng “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”. Cái rét trong rừng sâu, cái rét trong vùng địch hậu, cái rét được đề cập phản ánh trong nhiều bài thơ kháng chiến, không chỉ là chuyển tải nét khắc nghiệt của khí hậu, mà còn đối sánh cảnh nồng ấm của nghĩa tình đồng chí – đồng đội, nghĩa tình quân – dân. Câu thơ của Chính Hữu vừa nói lên một trong thực tiễn về sự thiếu thốn của người lính Vệ quốc trong kháng chiến, nhưng cao hơn là một trong thực tiễn khác: Cái rét đã tạo thành tình tri kỷ giữa hai người chung chăn.

Thơ kháng chiến nói chung, thơ Chính Hữu nói riêng, cái “Tôi” trữ tình không đơn thuần là cái “Tôi” cá nhân, tâm trạng, cái “Tôi” phô diễn, cái “Tôi” giãi bày, mà là cái “Tôi” thế hệ, cái “Tôi” công dân, cái “Tôi” sử thi. Ở đây “Anh-Tôi” chuyển hóa trong biên độ cái “Ta” chung, cái “Ta” đa phần đông đảo:

Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Nhưng không vì vậy mà người lính mất đi niềm tin, niềm lạc quan, vẫn yêu đời, yêu người trong tình đồng chí – đồng đội:

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Hai người lính Vệ quốc trong tình đồng chí, trong nhiều câu thơ có hai vế nhưng một hoàn cảnh. Do vậy, có khi chỉ một hoàn cảnh nhưng người đọc liên tưởng cho cả hai. có những lúc câu thơ nói gia cảnh một người mà như cả hai:

Ruộng nương anh gửi bạn tri kỷ cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Điều này cho thấy thêm một bình diện trong chân dung tinh thần người lính vệ quốc, đó là sự hy sinh lặng lẽ không so đo, mặc cả, không toan tính thiệt – hơn cho cuộc kháng chiến của dân tộc. Chính vẻ đẹp này ánh xạ rực rỡ cái tình của những người “đồng chí” trong thơ.

Đóng góp của Quang Dũng và Chính Hữu cho nền thơ kháng chiến trên nhiều lĩnh vực thi pháp. Bằng chính cuộc đời với những trải nghiệm, kiểm chứng, bằng vốn sống phong phú của đời lính, những anh đã phản ánh được nhiều nét thẩm mỹ không giống nhau về chân dung tinh thần của một thế hệ cầm súng trong “ba ngàn ngày không nghỉ”, góp phần quan trọng làm nên những trang sử vẻ vang nhất của dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 3

Quang Dũng và Chính Hữu đều là những nhà thơ cách mạng nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, những giá trị của những tác phẩm này mang một ý nghĩa sâu sắc to lớn trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ sâu sắc và mang một tầng ý nghĩa sâu sắc to lớn, giá trị của nó không chỉ là để lại cho người đọc nhiều cảm xúc và còn làm sống lên những tinh thần thiết yếu trong những tác phẩm của người.

Đều là những người nghệ sĩ tài hoa, và có nhiều tài năng trong phép sử dụng ngôn ngữ và những nét điển hình trong phong thái nghệ thuật, Quang Dũng và Chính Hữu đã làm nên những giá trị to lớn trong những tác phẩm của tớ, bài thơ có nhiều nét tương đương khi chủ đề của nó đều hướng tới cách mạng hướng tới một nền đại chúng. Toàn bộ giá trị của tác phẩm đều muốn hướng tới những điều có giá trị to lớn và mang một tầm ý nghĩa sâu sắc qua trọng cho toàn bộ tác phẩm, những giá trị của nó làm nên những điều có ý nghĩa sâu sắc lớn lao và hạnh phúc nhất đối với mỗi con người.

Biệt tài sử dụng ngôn ngữ của Quang Dũng trong phong thái nghệ thuật của ông đã làm nên những giá trị to lớn trong phong thái của người, những giá trị của nó làm nên những giá trị to lớn về sự sống động trong những giây phút đang được sống lại trong những giây phút hào hùng, người chiến sĩ xuất hiện trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hiện lên với những người anh hùng, kiên trì bền chắc để vượt qua mọi nguy hiểm và nguy hiểm để rất có thể làm nên những điều có ý nghĩa sâu sắc và mang ý nghĩa sâu sắc mạnh mẽ nhất.

Với nghệ thuật sử dụng hình tượng nhân vật và ngôn ngữ, những điển hình về hình tượng và nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm được sử dụng một cách mạnh mẽ và có ý nghĩa sâu sắc nhất:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Với những ngôn ngữ tinh nghịch sắc sảo và ngập tràn giá trị màu sắc, mức độ nguy hiểm trong bài thơ đã được diễn tả với một mức độ cao nhất, và nó mang một mức độ trừu tượng hóa trong ngôn ngữ và biệt tài sử dụng ngôn ngữ trong những tác phẩm của người, giá trị đó đã tạo thành những màu sắc lung linh sống động trong những giây phút hào hùng và có ý nghĩa sâu sắc nhất.

Và đặc biệt đối với Chính Hữu bài thơ lạ mang một phong thái hoàn toàn khác lạ khi nghệ thuật chân thực và hiện thực xã hội hiện lên với những nét đặc sắc trong cuộc đời của tác giả, những tác phẩm đó không chỉ là để lại những giá trị mạnh mẽ và đặc trưng nhất, những lời thơ mang chất chân chất và nó phản ánh được cuộc sống của những người chiến sĩ cách mạng khi phải xa quê nhà người thân để đến những vùng đất mới, những người chiến sĩ của chúng ta tới từ khắp mọi nơi, và nó làm nên một gia đình lớn , mạnh mẽ và đang sống động trong từng khoảnh khắc, mỗi tác phẩm đều đem lại những lời thơ mang màu sắc tươi tắn và tạo thành nhịp sống của những người chiến sĩ cách mạng.

Qua bao nhiêu năm tháng chiến đấu kiên trì những người chiến sĩ của ta đã đứng lên làm nên những giá trị sống mạnh mẽ và ý nghĩa sâu sắc nhất cho từng con người, bao nhiêu niềm yêu thương được hồ khởi và sống trong những trang thơ ca của tác giả, với niềm tin và sự yêu thương khi hòa hợp dưới cùng một mái nhà, những người chiến sĩ tự phương trời xa xôi đã tụ họp về đây để cùng nhau làm nên những chiến công lịch sử.

Những người chiến sĩ đã đoàn kết và cùng với nhau làm nên những phút giây lịch sử hào hùng, và đây là cuộc sống tươi vui và mang màu sắc nó tạo dựng những ý nghĩa sâu sắc mạnh mẽ và những cuộc đời hạnh phúc và giàu ý nghĩa sâu sắc nhất:

Súng bên súng đầu gác bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Những ngôn ngữ mang màu sắc nhưng lại cực kì chân thực đã làm nên những cuộc đời có ý nghĩa sâu sắc và giá trị mạnh mẽ nhất đối với mỗi con người, khi ngôn ngữ tạo dựng đang tạo thành những điều có ý nghĩa sâu sắc mạnh mẽ và đang lan tỏa trong cuộc đời của mỗi người. Hoàn cảnh của những người chiến sĩ của bài thơ Đồng Chí đều xuất phát từ những người nông dân đang ngày đêm phải đương đầu và cố gắng làm nên những thành quả to lớn đối với dân tộc, khi hoàn cảnh của họ khó khăn chỉ có những gian nhà lung lay, những ruộng lương thì để lại cho bạn tri kỷ cày. Hoàn cảnh của họ đã làm nên những giây phút thiêng liêng và đây đúng là động lực để họ rất có thể cố gắng và làm nên những giây phút lịch sử hào hùng và có ý nghĩa sâu sắc nhất đối với dân tộc Việt Nam.

Cả hai bài thơ chúng ta đều thấy hiện lên những nét điển hình trong phong thái sử dụng ngôn ngữ để làm nổi trội lên toàn bộ tác phẩm, những giá trị của những tác phẩm này đều để cho nhân loại những đặc trưng điển hình và mạnh mẽ nhất. Ngôn ngữ trong hai tác phẩm này rất có thể thấy có sự không giống nhau khi trong Tây Tiến ngôn ngữ của nó hào hùng bi tráng và mang nhiều màu sắc hình tượng. Còn đối với bài thơ Đồng Chí ngôn ngữ chất phác, và mang giá trị về màu sắc đã làm nổi trội lên toàn bộ tác phẩm với hai nghệ thuật rất có thể thấy nó hoàn toàn không giống nhau, và mục đích rất có thể thấy là giống nhau, nhưng trong biệt tài sử dụng ngôn ngữ của những nhân vật.

Với những nét điển hình và đặc sắc, nó tạo thành những phong phú trong nghệ thuật của tác giả đối với chính tác phẩm của tớ. Những hình tượng nổi trội trong tác phẩm hiện lên hoàn toàn sâu sắc và mang màu sắc tươi tắn tạo thành những hình ảnh và giá trị có ý nghĩa sâu sắc nhất.

Sự khác lạ trong cách sử dụng ngôn ngữ và tính chất biệt lập trong cách tạo hình nhân vật đã làm sống động lên những giây phút hân hoan, và biệt lập đối với cuộc sống của nhân vật xuất hiện trong tác phẩm. Những ngôn ngữ tạo lên sự biệt lập về ngôn ngữ để có giá trị ý nghĩa sâu sắc và mang ý nghĩa sâu sắc biểu trưng mạnh mẽ, tác phẩm của Quang Dũng và Chính Hữu tạo thành những ý nghĩa sâu sắc biểu trưng về cuộc sống và giá trị mang tầm ý nghĩa sâu sắc sâu sắc đối với toàn bộ tác phẩm.

Những hình ảnh điển hình và sâu sắc đã tạo thành những đặc sắc trong những tác phẩm và giá trị của nó để lại cho nhân loại những cái nhìn ý nghĩa sâu sắc và sâu sắc nhất.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 4

Viết về đề tài người lính trong kháng chiến Pháp không biết đã có bao nhiêu bài thơ, tác phẩm truyện viết về đề tài này. Trong số những tác giả viết về đề tài này, ta rất có thể nói tới hai cái tên Quang Dũng và Chính Hữu. Hai tác phẩm Tây Tiến và Đồng Chí cho tới nay vẫn được bạn đọc rất yêu thích và được giới phê bình đánh giá cao. Cùng viết về đề tài người lính trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp nhưng người lính trong hai bài thơ không chỉ là có những điểm giống nhau mà có nhiều điểm không giống nhau.

Điểm không giống nhau thứ nhất là khác về xuất thân. Những người lính trong hai bài thơ có hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nên dẫn đến tính cách không giống nhau. Những người lính Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng phần lớn xuất thân từ những người thanh niên tri thức ở Thành Phố Hà Nội. Họ lên đường theo tiếng gọi của lòng yêu nước, hi sinh hạnh phúc cá nhân để đổi lấy hạnh phúc cho vương quốc. Chính vì thế họ có một tâm hồn lãng mạn:

“Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng kiều thơm”

Trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt nguy hiểm nhưng sự lãng mạn trong những người lính trẻ không hề mất đi. Họ nhớ tới những người con gái mà họ yêu để thi vị hóa, cân bằng hóa thực tại. Họ đắm mình vào những cảnh sắc thiên nhiên, nhìn cảnh rừng núi tây-bắc hùng vĩ trữ tình, ngòi súng chếch cao tưởng như súng đang ngửi trời. Không những thế những người lính ấy còn có một tâm hồn vui tươi, tươi trẻ.

Những người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu không xuất thân là những người trí thức mà họ xuất thân từ những người nông dân ở những nơi làng quê mộc mạc chất phác:

“quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Tôi với anh đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Họ là những người nông dân từ những nơi quê nghèo, đất cày sỏi đá, nước mặn đồng chua. Họ vừa chất phát, vừa hồn hậu. Nếu ngày trước họ chỉ biết đi cày, làm lụng ruộng nương nhưng vì vương quốc, vì căm thù giặc họ cũng “mặc kệ” ngôi nhà không cho gió lung lay để ra trận. Bỏ giếng nước gốc đa, bỏ tấm áo vải nâu trầm, người lính nông dân phủ lên mình màu áo xanh bộ đội, tay bỏ cày cầm súng giết giặc trả thù cho quê nhà. Sự không giống nhau thứ hai của những người lính trong hai bài thơ là vẻ đẹp về ngoại hình. Người lính Tây Tiến được nhà thơ Quang Dũng vẽ lên nét đẹp ngoại hình tuy ốm nhưng không yếu:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng kiều thơm”

Do điều kiện chiến tranh thiếu thốn, do hoàn cảnh chiến đấu nơi rừng thiêng nước độc người lính Tây Tiến hiện liên với ngoại hình đầu không mọc tóc, quân xanh là lá cây ngụy trang hay cũng rất có thể màu quần áo bộ đội hoặc cũng rất có thể hiểu là mặt xanh vì thiếu chất. Thế nhưng người lính không hề yếu trái lại lại “dữ oai hùm”. Họ hiện lên với vẻ đẹp của ý chí “mắt trừng” thể hiện sự căm thù giặc hay cũng rất có thể là trong cả trong những khi ngủ người lính Tây Tiến cũng gửi mộng thắng lợi vùng biên giới. Khác với người lính Tây Tiến, người lính nông dân của Chính Hữu có vẻ đẹp ngoại hình với những nét mộc mạc hồn hậu. Đó là những miếng áo rách nát, quần vá:

“Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”

Nét ngoại hình của người lính nông dân không được nhà thơ nhấn mạnh vào những đặc trưng trên khuôn mặt cơ thể mà nhấn mạnh vào những thiếu thốn của trang phục quần áo. Người lính nông dân phải mặc áo rách nát vai, quần vá chỗ này một miếng chỗ kia vài miếng. Trong làn sương sớm, những người lính đứng sát bên nhau, chân không tồn tại giày miệng cười với nhau trong buốt giá đêm khuya. Họ hiện lên không những giản dị mà chứa chan tình yêu thương. Ngoài dẫu có rét, quần áo dẫu có nát thì càng là cái cớ cho tình đồng chí trở thành keo sơn êm ấm hơn. Cả hai bài thơ đều thể hiện được tình đồng chí đồng đội, nhưng ở mỗi bài cách mà những người lính thể hiện tình đồng chí đó lại không giống nhau.

Người lính Tây Tiến là những người trí thức, họ không thể hiện tình cảm của tớ một cách trực tiếp mà thể hiện rất kín đáo. Nhà thơ không tồn tại câu thơ nào nói về cách quan tâm chăm sóc nhau giữa những người đồng đội của tớ nhưng cách nhà thơ diễn tả lại những kỉ niệm mà nhà thơ từng có với đồng đội của tớ rất có thể thấy tình cảm keo sơn gắn kết ấy. Nó keo sơn đến mức người lính Tây Tiến nguyện:

“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

Còn người lính nông dân được nhà thơ Chính Hữu mô tả tình đồng chí một cách trực tiếp. Đối với họ tình đồng chí là những người không hẹn quen nhau, đều tới từ những nơi xa lạ nhưng:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!”

Hay

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Từ đây ta rất có thể thấy được những vẻ đẹp không giống nhau của người lính giai đoạn kháng chiến chống Pháp qua hai bài thơ Tây Tiến và Đồng Chí. Bằng tài năng nghệ thuật của tớ, Quang Dũng và Chính Hữu đã xây dựng những vẻ đẹp riêng cho những người lính của tớ. Tuy nhiên, chính những nét điểm riêng ấy lại làm nên một nét đẹp chung cho người lính giai đoạn kháng chiến chống Pháp nói riêng và người lính Việt Nam nói chung. Dù họ có là ai, ở đâu, xuất thân thế nào thì họ ra đi đều với mục tiêu bảo vệ vương quốc, chọn hi sinh để đổi lấy hạnh phúc cho dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 5

Người lính là hình tượng trung tâm trong văn học kháng chiến, ở mỗi giai đoạn lịch sử của mỗi trận chiến tranh, người lính trong đời sống trong thực tiễn cũng như trong thơ ca đều có những nét không giống nhau. Đầu cuộc kháng chiến chống Pháp có hai loại người lính: một là người lính xuất thân từ nông dân như trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên, Cá, nước của Tố Hữu, Đồng chí của Chính Hữu; hai là người lính xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản thành thị (hồi đó có trào lưu xếp bút nghiên lên đường tranh đấu) như Tây Tiến của Quang Dũng. Cả hai đều cùng chung lí tưởng yêu nước giết giặc, cùng thể hiện tinh thần xả thân vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Người lính trong bài thơ Tây Tiến được xây dựng bằng cảm hứng lãng mạn. Bút pháp lãng mạn thường thể hiện bằng cái phi thường. Khung cảnh hoạt động của người lính là khung cảnh phi thường:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Những độ cao, những vực thẳm, những heo hút chỉ tăng vẻ hào hùng cho người lính chứ không đe dọa người lính. Thiên nhiên còn chứa đựng cả những bí mật, những hiểm nguy:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người.

Hình tượng người lính cũng thật là phi thường. Người lính Tây Tiến gần với người hiệp sĩ vì nghĩa lớn, nhưng họ là những con người bằng xương bằng thịt đang chiến đấu gian khổ trong những ngày đầu kháng chiến.

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Diễn tả những gian khổ của người lính ở rừng rất chân thực, thiếu ăn, thiếu thuốc sốt rét… đến nỗi rụng hết tóc. Nhưng bút pháp lãng mạn không làm yếu người lính mà càng oai hùng đầy tự hào. Cái chết cũng bi hùng, đượm tinh thần hi sinh của hiệp sĩ:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Người lính Tây Tiến mang theo nét hào hoa của những thanh niên Thành Phố Hà Nội đi chiến đấu thời bấy giờ – Trong số đó có Quang Dũng. Tình quân dân cũng nhuốm màu sắc lãng mạn:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự khi nào

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Con người như lạc vào thiên nhiên mơ mộng, lạc vào xứ lạ, phương xa thường thấy trong cảm hứng lãng mạn. Giấc mơ của người lính cũng là giấc mơ của những thanh niên Thành Phố Hà Nội tràn đầy tinh thần lãng mạn:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng kiều thơm.

Hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu được tác giả viết với bút pháp hiện thực. Người lính hiện lên với toàn bộ những dáng vẻ chất phác lam lũ của người nông dân mặc áo lính. Họ là người của tứ xứ, của những làng quê nghèo nàn gặp nhau trong lí tưởng cứu nước:

quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Từ tình yêu giai cấp, họ đã nâng lên thành tình đồng chí, một tình cảm mới mẻ:

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!

Tấm chăn đắp lại thì tâm tư họ mở ra, họ nắm vững hoàn cảnh của nhau:

Ruộng nương anh gửi bạn tri kỷ cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.

Ở ngoài chiến trường mà nghe rõ gió lung lay từng gốc cột của ngôi nhà mình, người lính thương yêu gia đình, quê nhà biết bao nhiêu, nhưng trước hết họ phải vì nghĩa lớn. Về tinh thần hiệp sĩ này họ lại rất gần với người lính Tây Tiến.

Họ sẵn sàng chịu đựng những gian khổ tột độ của cuộc kháng chiến:

Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài miếng vá

Nụ cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Tình đồng chí đã nuôi dưỡng tâm hồn của những người lính và họ đã biến nó thành sức mạnh chiến đấu. Bút pháp mô tả cũng không giống nhau. Một chi tiết trong thơ: Chiếc áo Quang Dũng nói là áo bào có tính chất hiệp sĩ còn Chính Hữu nói áo anh rách nát vai rất hiện thực. Từ tình thương yêu giai cấp, họ đã cùng vươn lên đỉnh cao của tình đồng chí:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.

Chung nhau một chiếc chăn là một cặp đồng chí; áo anh rách nát vai, quần tôi có vài miếng vá là một cặp đồng chí; đêm nay giữa rừng hoang sương muối đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới là một cặp đồng chí. Lạ thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí: Đầu súng trăng treo. Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chí kia, nói được cái cụ thể và gợi đến cực kì. Súng và trăng, gần và xa, Tôi với anh hai người xa lạ, Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau. Súng và trăng cứng rắn và dịu hiền. Súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ. Súng và trăng là thể hiện cao quý của tình đồng chí.

Sự phối hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tinh thần lãng mạn cách mạng là vẻ đẹp riêng của hình tượng người lính trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 6

Đọc bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “Tây Tiến” của Quang Dũng, ta đều bắt gặp hình ảnh những người lính thời kháng chiến chống Pháp gian khổ mà hào hùng. Một cách giản dị và thân thương, hình ảnh người lính với những điểm chung và nét riêng độc đáo đã đem về cho người đọc cái nhìn sâu sắc hơn về người lính thời kháng chiến chống Pháp, đồng thời sẻ chia với những cảm xúc, suy nghĩ của hai tác giả và trân trọng hơn tài năng, cách phác họa hình tượng khéo léo, tinh ý của hai nhà thơ.

Cùng chắp bút viết thơ trong một giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc, cả Chính Hữu và Quang Dũng đã xây dựng nên hình tượng người lính cực kì chân thực trong hai bài thơ “Đồng chí” và “Tây Tiến”. Những người lính trong hai bài thơ này đều mang nét hào hùng và rất mực hào hoa, lãng mạn.Người lính trong “Tây Tiến” của Quang Dũng xuất hiện trên một nền cảnh thiên nhiên vùng cao kỳ vĩ, hiểm trở:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Những hình ảnh dốc đèo khúc khuỷu, heo hút với “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” ấy đã diễn tả chân thực khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ nhưng cực kì hiểm trở, khiến cho chặng đường hành quân của những người lính càng thêm gian lao, vất vả hơn. Dẫu có khó khăn, nhọc nhằn, người lính Tây Tiến vẫn trong tư thế chủ động, sẵn sàng, ung dung, lạc quan đối diện với thực tại vô vàn khắc nghiệt:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Đây là một cách nói giảm nói tránh về sự hy sinh, mất mát đầy đau thương mà bất kỳ người lính Tây Tiến nào cũng rất có thể phải đối mặt. Song, những người lính ấy vẫn quyết tâm, tinh thần hừng hực lòng căm thù giặc, quyết chiến đấu để trả thù để đền đáp sự ngã xuống anh dũng của đồng đội mình trên chặng đường dài hành quân ra trận. Trong cảnh rừng thiêng nước độc, người lính Tây Tiến vẫn lạc quan, ung dung, họ coi nhẹ cái chết bởi lý tưởng cách mạng đã tiếp thêm nghị lực, sức mạnh tinh thần cho họ:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Chiến tranh xảy đến, mất mát là không thể tránh khỏi, Quang Dũng nói về sự trở về với đất mẹ của những anh một cách rất bi hùng, cao quý:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Vẻ đẹp hào hùng của người lính cũng được Chính Hữu phác họa rất rõ nét. Họ là những con người không ngại gian khó, hiểm nguy, đặt lý tưởng, mục tiêu chiến đấu lên trên hết:

“Ruộng nương anh gửi bạn tri kỷ cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”

Cái hoàn cảnh chiến đấu “rừng hoang sương muối” khắc nghiệt, dữ dội là vậy cũng không thể làm chùn bước chân, làm nản ý chí những người lính. Vượt lên hiện tại, họ là những con người hiên ngang, bất khuất “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Bên cạnh vẻ đẹp hào hùng, những người lính trong cả hai bài thơ đều mang vẻ đẹp hào hoa, lãng mạn. Quang Dũng mô tả nét hào hoa ấy khi người lính cùng đồng bào vùng cao tham gia những lễ hội vui tươi, đầm ấm:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự khi nào

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Hay như sự lãng mạn của người lính trong “Đồng chí” được thể hiện qua câu thơ:“Đầu súng trăng treo”. Đều là những nhà thơ đã từng cầm súng chiến đấu vì Tổ quốc, nên Quang Dũng và Chính Hữu đều có những trải nghiệm và kỉ niệm sâu sắc để từ đó viết về người lính đặc sắc và cảm động. Bên cạnh những nét giống nhau, người lính trong hai bài thơ còn có những nét riêng ấn tượng. Người lính Tây Tiến đa phần ra đi từ Thành Phố Hà Nội, họ là những thanh niên, những trai trẻ vừa mới bước ra từ giảng đường. Còn ở “Đồng chí”, người lính đều là những nông dân bỏ áo lấm bùn phủ lên mình áo lính, họ ra đi từ những làng quê nghèo vì sự nghiệp bảo vệ vương quốc: “quê nhà anh nước mặn đồng chua/ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Nếu như trong “Đồng chí”, Chính Hữu dùng bút pháp tả thực để triệu tập làm nổi trội vẻ đẹp của tình đồng chỉ cùng chung hoàn cảnh, chung quân ngũ, chung lý tưởng cao đẹp thì Quang Dũng lại lựa chọn khái quát vẻ đẹp chung của người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân nhiêu gian truân thử thách trong “Tây Tiến”.

Vẻ đẹp người lính Tây Tiến được gợi nên từ những cảm xúc, những kỷ niệm rất đỗi thiêng liêng của nhà thơ Quang Dũng trong thời gian tác giả gắn bó đậm sâu nghĩa tình với đoàn quân Tây Tiến. Nhà thơ gợi nên vẻ đẹp riêng của người lính Tây Tiến nhưng đồng thời cũng phác họa chân thực và sâu sắc vẻ đẹp của cả một thế hệ anh hùng trong thời kỳ lịch sử kháng chiến gian khổ, gian lao của quê nhà, dân tộc. Để tái dựng lại một cách sinh động hình tượng người lính, nhà thơ Quang Dũng đã sử dụng tài tình bút pháp lãng mạn trên cái nền của hiện thực.

Qua hai bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí”, hai nhà thơ đã phác họa nên trước mắt người đọc hình ảnh những người lính có những điểm chung và nét riêng ấn tượng, góp phần làm hoàn chỉnh hơn bức tranh ngôn từ phác họa chân dung anh bộ đội cụ Hồ thời kháng chiến chống Pháp.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 7

Chiến tranh tàn khốc đã đi qua nhưng những chiến công và những con người lịch sử thì còn sống mãi trong văn chương không tuổi. Văn học lưu giữ, khắc ghi và ca tụng họ – những người lính anh dũng đã đem lại độc lập cho tổ quốc qua những câu thơ, áng văn đậm đà tình cảm. Tuy nhiên với mỗi bài thơ lại có cách khám phá và thể hiện rất riêng mang đậm dấu ấn cá nhân người nghệ sĩ. Hình tượng người lính trong hai bài thơ “Đồng chí” – Chính Hữu và “Tây Tiến” – Quang Dũng vừa mang những nét tương đương vừa có những nét riêng đặc biệt.

“Hình tượng” là toàn cầu đời sống, con người hiện lên trong trang viết của người nghệ sĩ, là nơi tác giả thể hiện tư tưởng, tình cảm của tớ. Hình tượng người lính vốn không mấy xa lạ trong văn học Việt Nam nhưng mỗi người lại có cách thể hiện của riêng mình, tạo thành toàn cầu đời sống rất riêng và đặc sắc. Cùng phát hành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, “Đồng chí” và “Tây Tiến” đã đem lại cho người đọc những cách nhìn nhận mới mẻ, những hình ảnh riêng độc đáo, hoàn thiện bức tranh về người lính chống Pháp và để lại trong lòng người đọc những ấn tượng không nguôi. Họ cùng là những con người của một thời đại anh dũng và hào hùng, cho nên ở đó luôn toát lên phong thái ngang tàng, mạnh mẽ, sẵn sàng vượt qua mọi nguy hiểm thử thách dẫu mưa rừng thác lũ có dữ dội đến đâu:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm.

Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Người lính phải vượt qua những trận mưa nguồn suối lũ, những đêm ngủ rừng chỉ có manh chiếu mỏng đắp vội, cơm chẳng đủ no, “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.” Nhưng đáng sợ nhất vẫn là những trận sốt rét rừng. Những cơn sốt rét rừng đến vàng da rụng tóc, bòn rút từng chút sức của họ:“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh.

Rét run người vầng trán ướt mồ hôi”
Hay:“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

nguy hiểm, khổ đau là thế, những cơn sốt rét rừng hành hạ, thêm vào đó là tư trang tư phục chẳng đủ, thiếu thốn trăm bề nhưng những người lính đó vẫn chưa khi nào thôi lạc quan và hạnh phúc. chính vì họ thiếu thốn vật chất nhưng đời sống tinh thần của họ lại thật phong phú biết bao: tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó, những đêm đốt lửa trại liên hoan dưới ánh đuốc hoa bập bùng, những trận sốt rét rừng hành hạ được ngả đầu trên vòng tay êm ấm của đồng đội. Có lẽ vì vậy mà họ có chung một niềm lạc quan, một sự anh dũng và quả cảm đáng phục, là nguồn động lực giúp họ thắng lợi mọi thử thách và đương đầu trước mọi gian truân. Có khó khăn, có gian khổ đấy, nhưng họ vẫn chưa khi nào đầu hàng trước thử thách mà dũng cảm đối đầu với chúng để xứng đáng trở thành anh bộ đội cụ Hồ.

Người lính trong “Đồng chí” hay người lính trong “Tây Tiến” xét cho cùng tuy hai mà một, gặp gỡ nhau trong nét cốt cách anh hùng của người lính chống Pháp năm xưa.Nhưng “không tồn tại lối đi chung nào cho hai nhà văn cả”, những người nghệ sĩ rất có thể gặp gỡ nhau trong cảm xúc trữ tình, hình tượng họ xây dựng cũng rất có thể tương đương đôi nét nhưng không khi nào là một bản sao. Cho nên dù viết về người lính cùng một thời đại nhưng mỗi bài thơ lại có một nét khám phá, phát hiện rất riêng. Người lính của Chính Hữu mang nét gì đó mộc mạc, hiền lành, chân chất, bởi họ xuất thân từ vùng quê nghèo nơi nước mặn đồng chua, họ là những người nông dân vì chiến tranh mà phải buông liềm đi cầm súng:

“quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Có lẽ vốn dĩ xuất thân từ những người nông dân bình dị, cho nên tình cảm của họ dành riêng cho nhau cũng thật chân thành và kín đáo. Hai chữ “đồng chí!” thốt lên như là xúc cảm cố giữ bỗng chốc bật ra thành lời, họ quan tâm nhau và chăm sóc nhau bằng sự chân thành và thật thà của người dân vùng quê bến nước:

“Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.”

Họ đến với nhau vì cùng chung lí tưởng, mục đích, đó là dùng máu xương của tớ để giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Những người lính nông dân thật thà chất phác đó thể hiện tình cảm chân thành và ý nhị, chia cho nhau từng bát cơm, từng mảnh chăn chắp vá và dù đêm lạnh lẽo thế nào cũng rất có thể cười vì hơi ấm đồng đội trao:

“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng”

Còn người lính của Quang Dũng lại xuất thân từ những sinh viên thủ đô vừa rời khỏi giảng đường ĐH. Vì tuổi trẻ, vì cuộc sống thị thành đã tôi luyện cho họ một nét tình cách vừa hào hoa vừa phong tình, đậm đà chất lãng mạn. Có lẽ vì vậy mà họ không hề che giấu sự đa tình của tớ trong cả khi đang trên hành trình hành quân ra mặt trận, cái ngạo nghễ, tươi trẻ đó như rót vào lòng họ những tia sáng lấp lánh. Họ mơ về chiến công bên biên giới, họ cũng không quên mơ về giấc mộng của riêng mình: một “dáng Kiều thơm” hay người con gái của đất kinh đô, những nữ sinh Trưng Vương, Đồng Khánh đẹp người sóng sánh bên nước trời Thành Phố Hà Nội:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng Kiều thơm”

Lời thơ như có chút gì đó táo bạo nhưng cũng thật lãng mạn và đa tình. Họ chiến đấu anh dũng nhưng đồng thời cũng sở hữu trong mình những nét đẹp hào hoa đến lạ. Có lẽ nó vừa là nguồn động lực, vừa là nét đẹp rất riêng, rất táo bạo của người lính trẻ, họ như cánh hoa đong đưa mình trên dòng nước lũ, những bông hoa đã sống trọn kiếp mình với nắng, với gió, để tỏa sắc giữa cuộc đời dẫu thác lũ có dữ dội đến đâu.Với “Đồng chí” và “Tây Tiến”, cả hai tác giả đã đưa ta đến với những vẻ đẹp của người lính chống Pháp năm xưa. Gặp gỡ có nhưng độc đáo cũng có thể có, hai bài thơ vừa có những điểm chung lại có những nét rất riêng, rất mới lại, góp phần hoàn thiện vẻ đẹp người chiến sĩ cách mạng.

Đúng như ai đó đã từng nói rằng, nhà thơ phải đốt cháy mình mới mong ngọn lửa của tớ tỏa rạng giữa đời, cả Chính Hữu và Quang Dũng thực sự đã đốt lửa lòng để viết ra những câu thơ đẹp đẽ. Văn chương cách mạng nhờ vậy mà còn sống mãi, bởi bản thân nó trở thành những áng văn thơ mang lửa, sẵn sàng tỏa rạng để vào “đốt lửa lòng” bất kì ai.Có những sự thích thú chỉ là thoáng qua nhưng có những tình cảm sẽ là mãi mãi. Có những bài viết đọc một lần rồi quên nhưng có những áng thơ trường tồn bất diệt dẫu thời gian có nghiệt ngã cỡ nào. Người nghệ sĩ chân chính tương tự như những áng thơ bất diệt vậy, khi họ viết tác phẩm của tớ bằng Tài và Tâm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 8

“ Có một bài ca không khi nào quên…”. Lời bài hát gợi ta nhớ về những năm tháng hào hùng của dân tộc. Và người xây nên những bản tình khúc không thể nào quên đấy là những người lính – con người đẹp nhất thời đại – người con trung hiếu của nhân dân. Cho nên, đừng ngạc nhiên hỏi vì sao văn học giai đoạn 1945 – 1975 lại có nhiều tác phẩm viết về người lính đến vậy. Nhưng có lẽ, để lại ấn tượng sâu sắc nhất đúng là hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp được thể hiện qua hai bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng và Đồng chí của Chính Hữu. Bởi lẽ hai bài thơ đều khắc họa thành công những con người cao đẹp ấy, song mỗi người lại có cảm hứng của riêng mình, bút pháp nghệ thuật riêng của tớ, khác hẳn nhau.

Một nhà văn nào đó đã nói rất đúng “Văn học là tôi, khoa học là chúng ta”. Đó là lý do rất xác đáng để lý giải sự không giống nhau giữa hai bài thơ này. Nếu như Quang Dũng bắt gặp vẻ đẹp của người lính ở điểm này thì Chính Hữu lại thấy vẻ đẹp của anh bộ đội ở điểm khác. Thơ ca là những rung động của nghệ sĩ, là con đẻ của trạng thái tinh thần. Nó chỉ trào ra khi cảm xúc đã tràn ngập trong tim. Cảm xúc và rung động trong toàn cầu con người không khi nào giống nhau cả. Nó là những vương quốc riêng và đầy bí hiểm. trong cả ở một con người, rất có thể trong một phút rung động, thơ ca cứ tự nhiên trào ra, nhưng khi để nó trôi qua rồi thì không thể lặp lại những rung động ấy. Nói như nhà thơ Xuân Diệu thì “sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm” không thể có “chúng ta” trong nghệ thuật.

Với Quang Dũng, ông bắt gặp vẻ đẹp tài hoa, nhưng cũng rất đỗi phi thường ở người lính Tây Tiến. Cũng chẳng có gì là lạ cả bởi phần đông đoàn quân Tây Tiến là học viên Thành Phố Hà Nội “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Họ mang trong mình lý tưởng của Đảng, chút mơ mộng của người trí thức tiểu tư sản. Sức mạnh của tuổi trẻ và chất con người Thành Phố Hà Nội vốn từ lâu nổi tiếng là thanh lịch, tài hoa. Chính tác giả cũng là người lính Tây Tiến nên những nét tài hoa đã thấm sâu vào da thịt, đi theo ông vào thơ ca. Có lẽ bì thế Tây Tiến tràn ngập một cảm hứng lãng mạn, một ngòi bút lãng mạn và thực sự chỉ có ngòi bút này mới làm nổi trội làm thăng hoa vẻ đẹp can trường, dũng cảm, nhưng cũng rất đỗi hào hoa, phong nhã của đoàn quân Tây Tiến ấy.

Chính Hữu lại khác, ông xúc động trước tình đồng chí, đồng đội cao quý thiêng liêng của những người lính nông dân. Họ vốn xuất thân từ giếng nước, gốc đa, sân đình, sau lũy tre làng và mang trong mình tính chất hiền lành như hạt lúa, củ khoai của xóm làng. Nhà thơ cũng là người lính nông dân, cái chân chất, tình nghĩa ấy đã tạo ra bút pháp hiện thực trong tác phẩm Đồng chí. Nhưng đó cũng đúng là điều làm nên thành công của tác phẩm. Nếu ở đây Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn hay một bút pháp nào khác thì tình đồng đội kia không thể chân thành, cảm động mà ngược lại sẽ rất sáo rỗng. Chỉ với bút pháp hiện thực, tình đồng chí mới thực sự chân chất, hiền lành, mộc mạc và cao quý.

Cả hai bài thơ đều đáp ứng được yêu cầu của nghệ thuật, và mỗi tác giả đã có những phong thái nổi trội của riêng mình. Họ viết về người lính đâu chỉ bằng trái tim mẫn cảm của nghệ sĩ, bằng khả năng của mỗi người mà còn có cả tấm lòng mến thương, kính yêu và biết ơn đồng đội của tớ. toàn bộ những điều đó đã làm lên sự bất tử của hai tác phẩm Tây Tiến và Đồng chí.

Ở bài Tây Tiến, tác giả luôn lôi cuốn người đọc theo những đợt sóng trào của tưởng tượng và cảm xúc, đồng thời bàn thơ mang âm điệu của thể hành, và rất gợi không khí Thục đạo nan. Những câu thơ trong Tây Tiến giàu chất tạo hình và thật khác thường. Qua ngòi bút lãng mạn, người lính hiện lên rất đỗi can trường nhưng cũng rất mực tài hoa.

Trong đoạn đầu, nhiều người cho rằng Quang Dũng chỉ đặc tả thiên nhiên tây-bắc. Nếu chỉ hiểu như vậy thì vẫn chưa sâu, mà phải hiểu thiên nhiên và con người hòa quyện vào nhau. nói về thiên nhiên thì thức là có con người và ngược lại. Ở đây, khung cảnh chiến trường miền Tây hiện lên cực kì ác liệt và dữ dội, không chỉ là ở độ cao, độ sâu, đường khúc khuỷu, gập ghềnh “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, mà thú dữ còn luôn rình rập người chiến sĩ “đêm đêm Mường Hịch, cọp trêu người”. Nhưng trên toàn bộ, người lĩnh vẫn triển khai chủ thiên thiên, vượt qua khó khăn để đến tận cùng của cao độ “heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Hình ảnh những anh thật hùng vĩ, sánh ngang trời đất. Những bước đi trong mây của những anh đẹp và kỳ vỹ chẳng khác nào Thành Gióng ngày xưa. Ngòi bút của Quang Dũng cũng thật khéo léo, tài tình: nói cái gian khổ để tôn vinh thắng lợi, nói cái “bi” để tôn cái “tráng” thêm đẹp, tựa như lối “vẽ mây, nảy trăng” vậy:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm…

Diện mạo người lính thật khác thường: rụng tóc vì sốt rét rừng, đói ăn, thiếu thốn nên da “xanh màu lá”. Thế nhưng họ không hề nhụt chí, mà ngược lại, hoàn cảnh khắc nghiệt càng làm họ chiến đấu dũng cảm hơn, kiên trì và bất khuất hơn. “Không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”, nhưng “dữ oai hùm”. Ý thơ có sự tương phản giữa vẻ ngoài xanh xao tiều tụy vì bệnh tật với sức mạnh tinh thần và nội tâm vững vàng của người lính. Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước cùng vút bay lên để tôn thêm ánh hào quang của phẩm chất người lính Tây Tiến. Họ sống phi thường, chết lại càng phi thường hơn:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Ở đây Quang Dũng đã bất tử hóa cái chết của người lính. “Anh về đất” là hóa thân vào non sông vương quốc để tiếp thêm truyền thống cha ông “đêm đêm rì rầm trong tiếng đất”. Còn người lính, anh khoác trên mình tấm áo bào sang trọng cổ kính thay cho manh chiếu rách nát và ngã vào vòng tay đất mẹ như một đứa con thân yêu vừa làm tròn nghĩa vụ trở về. Nhà thơ đã mang đến cho đồng đội mình một chiếc chết lẫm liệt và tỏa ánh hào quang. Những câu thơ trên nói về mất mát hy sinh nhưng lại không hề bi lụy, ngược lại nó nâng hình ảnh người lính lên tầm cao hơn của thời đại. Anh ta đi, quê nhà ôm anh vào lòng, sống núi tấu lên “khúc độc hành” đưa anh về với đất mẹ. Thử hỏi còn cái chết nào đẹp hơn thế nữa?

Nhưng người lính Tây Tiến đâu chỉ có sự san trường và lòng dũng cảm; mang đậm chất con người Thành Phố Hà Nội nên họ có một tâm hồn lãng mạn, tài hoa. Sống giữa thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt, người lính vẫn nhận thấy nét hoang sơ, hùng vĩ mà rất đỗi thơ mộng, êm ấm của núi rừng miền Tây. Trên những nẻo đường hành quân vất vả, những anh phóng tầm mắt nhìn xuống những thung lĩnh phủ kín trong mưa để ngắm nhìn những ngôi nhà thấp thoáng ẩn hiện sau làn mưa mỏng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Rồi cả những sợi khói chiều “thơm nếp xôi” của bàn tay em gái Mai Châu làm ấm lòng người chiến sĩ và để lại trong lòng họ nhiều kỷ niệm khó quên.

Đặc biệt, những anh còn tổ chức những đêm hội rực rỡ đuốc hoa, thắm thiết tình quân dân, như chẳng hề có chiến tranh nơi đây vậy. Bằng những chi tiết mềm mại, tinh ý của ngòi bút lãng mạn, Quang Dũng đã nâng tâm hồn người lính bay bổng trong khung cảnh miền Tây thơ mộng, duyên dáng và tình tứ:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự khi nào

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Những người lính say sưa trong tiếng nhạc, tiếng khèn man điệu thiết tha. những chàng trai Hà thành ngỡ ngàng sung sướng trước dáng hồn sơn cước: “kìa em xiêm áo tự khi nào”. Mặc dù biết phía trước vẫn đầy những gian truân, hy sinh mất mát nhưng người lính Tây Tiến vẫn múa hát, vẫn lạc quan. rất có thể hôm sau một người nào đó nằm lại nơi núi rừng miền Tây này, nhưng hôm nay họ vẫn say đời, say cảnh, vẫn mơ đến những hình ảnh đẹp của thơ và nhạc: “Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”. trong cả những hình ảnh “dáng người trên độc mộc’, hay “hoa đong đưa” cũng gây ấn tượng đối với người lính Tây Tiến. Tâm hồn những anh lãng mạn, tươi trẻ và tươi mát biết bao!

Quyết tâm đánh giặc, gian khổ đói rét không làm khô héo chất lãng mạn vốn có trong từng chiến sĩ, giữa lúc chiến đấu họ vẫn dành riêng cho mình góc tâm hồn hướng về quê nhà và những người thân yêu:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Thành Phố Hà Nội dáng kiều thơm.

“Mắt trừng” hiện vẻ dữ tợn của khí thế quyết tâm đánh giặc. Dữ dội như vậy mà không vơi lãng mạn, người lính vẫn nhớ về dáng thướt tha và mùi thơm của tóc người bạn nữ thân thương. Ở những anh có con người chiến sĩ và con người nghệ sĩ cùng tồn tại, nhưng nó không hề tách biệt mà luôn hài hòa, quấn quýt vào nhau để tạo ra nét tài hoa và vẻ kiêu dùng của đoàn quân Tây Tiến. Tác phẩm chinh phục ta bởi một tâm hồn biết lăn vào thời đại, sống hết mình cùng thời đại nhưng cũng luôn làm đẹp cuộc đời bằng những cảm xúc lãng mạn lớn lao.

Người lính trong bài thơ Đồng chí lại có một vẻ đẹp khác, ấy là sự chân thực, giản dị và chắt lọc. Những câu thơ hầu như đều để mộc, không trang điểm, không gọt giũa ngôn từ. Hình ảnh thơ bình dị, như được đưa thẳng từ đời thực vào thơ, không hề có dù chỉ một dấu vết của ước lệ hay điển cố. Và qua bài thơ này, Chính Hữu đã khắc họa thành công chất hiền lành, tình nghĩa mộc mạc và dung dị cũng như tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng, cao quý của những người nông dân áo vải. Họ là những người từ những vùng quê lam lũ, đói nghèo, quanh năm chỉ biết đến con trâu, mảnh ruộng, theo tiếng gọi cứu nước, những anh giữ từ quê nhà lên đường chiến đấu:

quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.

Không mang vẻ kiêu hùng “ra đi là không quay về” như người lĩnh Tây Tiến, nhưng tấm lòng của họ đối với vương quốc thật cảm động. Khi giặc đến, những anh đã gửi lại người bạn tri kỷ mảnh ruộng vẫn chưa cày, mặc kệ những gian nhà lung lay để ra đi kháng chiến. Giản dị vậy thôi, nhưng nếu không tồn tại một tình yêu vương quốc sâu nặng, không thể có một thái độ ra đi như vậy:

Ruộng nương anh gửi bạn tri kỷ cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.

Ở nơi kháng chiến, người lính nông dân áo vải cùng có chung quê nhà vất vả đói nghèo, chung tình giai cấp, chung lý tưởng và mục đích chiến đấu. Cái chung ấy như một thứ keo sơn bền vững nối cuộc đời những người lính với nhau để làm nên hai tiếng “đồng chí” xúc động và thiêng liêng. Cũng tại nơi đây, người lính luôn hiểu rằng, nơi quê nhà, người mẹ già, người vợ trẻ cùng đàn con thơ đang trông ngóng anh trở về:

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Sống tình nghĩa, nhân hậu, hay lo toàn là phẩm chất cao đẹp của người lính. Với họ, vượt qua gian khổ thiếu thốn của cuộc sống là điều giản dị bình thường, không tồn tại gì là phi thường cả:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.

Chính Hữu khắc họa hiện thực khó khăn mà người lính gặp phải, nhưng đó không phải là điều chủ yếu mà nhà thơ muốn nói về. Cái cần nói về ở đây là vẻ đẹp tâm hồn người lính mà nơi phát ra vừng ánh sáng lung linh đúng là tinh thần đồng đội, đồng chí. Ôi! êm ấm biết mấy là cái xiết tay của đồng đội lúc gian khó, cái xiết tay được truyền hơi ấm, sức mạnh cho nhau. Đặc biệt là “miệng cười buốt giá” động viên nhau trong lúc gian khổ để xua đi cái lạnh lẽo, giá rét của thời tiết. Những câu thơ hầu như rất giản dị nhưng lại có sức lay động sâu xa lòng người. Từ trong sự bình thường giản dị, hình ảnh người lính của Chính Hữu vẫn ánh lên vẻ đẹp rực rỡ của lý tưởng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo…

Thật là bức tranh đơn sơ, thi vị về những anh trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi “rừng hoang sương muối”. Những người lính kề vai, sát cánh cùng hướng mũi súng lao vào kẻ thù. Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trăng bất ngờ xuất hiện chơi vơi, lơ lửng nơi đầu súng. Những người lính nông dân hiện lên như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình bị nhưng vẫn đẹp lạ lùng.

Ở đây, chân lý nghệ thuật “nét đẹp là sự giản dị” đã được nhất quán trong tác phẩm Đồng chí. Chính Hữu đã thành công trong một hướng thơ mới: hướng thơ đi vào khám phá ra cái lớn, nét đẹp đích thực của những gì gần gũi thân quen mà ta cứ ngỡ không tồn tại gì là thơ cả.

Với cảm hứng không giống nhau, Quang Dũng và Chính Hữu đã tạc vào dòng thời gian những tượng đài người lính Cụ Hồ. Họ đều là những người con yêu nước, yêu Tổ quốc, sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ cho quê nhà, vương quốc. Nhưng mỗi bài thơ lại mang đến cho ta những vẻ đẹp không giống nhau về tâm hồn phong phú của người lính cũng như bút pháp nghệ thuật của từng nhà thơ. Và những vẻ đẹp không giống nhau này không hề tách biệt nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau, tạo thành vẻ đẹp chung của anh bộ đội Cụ Hồ và nét riêng của từng người lính, góp phần hoàn chỉnh một khuôn mặt đẹp trong thơ kháng chiến Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

So sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” và “Đồng chí” bài 9

Đề tài về người lính luôn là một đề tài tiêu biểu trong giai đoạn kháng chiến. Nhưng cùng với hình ảnh ấy, mỗi nghệ sĩ lại có những cảm nhận không giống nhau, khai thác vẻ đẹp ở những phương diện không giống nhau. Đồng chí của Chính Hữu và Tây Tiến của Quang Dũng là hai tác phẩm tiêu biểu cho hình tượng người lính. Ở mỗi tác phẩm, người lính lại hiện lên với những vẻ đẹp cực kì riêng biệt.

Trong bài thơ Đồng Chí, tấm lòng của những người lính đối với vương quốc thật càm động khi giặc đến những anh đã gửi lại người bạn tri kỷ mảnh ruộng vẫn chưa cày, mặc kệ những gian nhà bị gió cuốn lung lay để ra đi kháng chiến. Bình thường vậy thôi, nhưng nếu không tồn tại một tình yêu vương quốc sâu nặng không thể có một thái độ ra đi như vậy.

“Ruộng nương anh gửi bạn tri kỷ cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay“

Họ đứng lên chiến đấu chỉ vì một lẽ giản dị: yêu nuớc Tình yêu vương quốc, ý thức dân tộc là máu thịt, là cuộc đời họ, bởi vậy, nông dân hay trí thức chỉ mới nghe tiếng đau thương của quê nhà, họ sẽ bỏ lại toàn bộ, cả ruộng nương, xóm làng. Chỉ đến khi ở nơi kháng chiến người lính nông dân áo vải lại trở mình, lòng lại bận tâm lo lắng về mảnh ruộng vẫn chưa cày, với căn nhà bị gió lung lay. Nỗi nhớ của những anh là thế: cụ thể nhưng cảm động biết bao! Người lính luôn hiểu rằng nơi quê nhà người mẹ già, người vợ trẻ cùng đàn con thơ đang trông ngón anh trở về:

“Giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính.”

Trong những tâm hồn ấy, hẳn sự ra đi cũng đơn giản như cuộc đời thường nhật, nhưng thực sự hành động ấy là cả một sự hy sinh cao quý. Cả cuộc đời ông cha gắn với quê nhà ruộng vườn, nay lại ra đi cũng như dứt bỏ đi nửa cuộc đời mình. Sống tình nghĩa, nhân hậu, hay lo toan cũng là phẩm chất cao đẹp của người lính nông dân. Với họ vượt qua gian khổ thiếu thốn của cuộc sống là điều giản dị bình thường, không tồn tại gì phi thường cả.

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

,Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!“

Chính Hữu đã khắc hoạ hiện thực khó khăn mà người lính gặp phải. Đối mặt với những khó khăn đó, những người lính không hề một chút sợ hãi , những thử thách giữa nơi rừng thiêng nước độc cứ kéo đến liên miên nhưng người lính vẫn đứng vững, vẫn nở “miệng cười buốt giá”. Đó là hình của sự lạc quan, yêu cuộc sống hay cũng là sự động viên giản dị của những người lính với nhau. Những câu thơ hầu như rất giản dị nhưng lại có sức lay động sâu xa trong lòng người đọc chúng ta…

Tuy nhiên từ trong sự bình thường, hình ảnh người lính của Chính Hữu vẫn ánh lên vẻ đẹp rực rỡ của lí tưởng, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, dũng cảm lạc quan trước hiểm nguy kẻ thù rình rập:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặt tới

Đầu súng trăng treo.”

Thật là bức tranh đơn sơ, thi vị về người lính trong một đêm chờ giặc tới giữa nơi rừng hoang sương muối. Những người lính kề vai, sát cánh cùng hứng mũi súng vào kẻ thù. Trong cái vắng lặng bát ngát của rừng khuya, trăng bất ngờ xuất hiện chơi vơi lơ lửng nơi đầu súng. Những người lính nông dân giờ đây hiện ra với một tư thế khác hẳn, như những người nghệ sĩ đầy chất thơ, bình dị nhưng vẫn đẹp lạ lùng.

Những hiện thực về hình tượng người lính trong bài thơ ” Đồng Chí “ đã góp phần hoàn thiện hình tượng người lính trong những cuộc kháng chiến của dân tộc. Ta rất có thể lấy một ví dụ so sánh hiện thực người lính giữa bài thơ “Tây Tiến” và bài “Đồng Chí”. Hiện thực của bài Tây Tiến là những người lính tiểu tư sản, học viên Thành Phố Hà Nội hào hoa, là chiến trường miền Tây dữ dôi và ác liệt . Từ hiện thực đó, với cảm hứng lãng mạn, nhà thơ Quang Dũng đã dựng lên chân dung người lính Tây Tiến phi thường – tài hoa, người lính của một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc.

Hiện thực trong bài Đồng Chí lại khác hoàn toàn. Như đã phân tích ở trên, hiện thực đó là những người nông dân nghèo, mặc áo lính gắn bó với nhau trong tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng. Từ người lính nông dân mộc mạc, giản dị – người lính thân quen của mọi nhà.

Cả hai hình tượng thơ ấy đã phản ánh rất chân thực và rất đẹp người lính trong một thời kí lịch sử , để rất có thể gộp lại thành hình tượng tiêu biểu của người lính thời kháng chiến chống Pháp xứng đáng là bức chân dung thời đại, một “ tượng đài nghệ thuật “ về người lính bất tử với thời gian.

Sẽ là một thiếu sót rất lớn khi lại đề cập quá nhiều đến hình tượng người lính và lại không nói về tình đồng chí, tình đồng đội của người chiến sĩ trong bài thơ. Tìm hiểu nhau , những người lính hiểu ra họ có cùng chung quê nhà vất vả khó nghèo, chung tình giai cấp, chung lí tưởng và mục đích chiến đấu. Chính cái chung ấy như một thứ keo sơn bền vững nối cuộc đời những người lính với nhau để làm nên hai tiếng “ đồng chí “ xúc động và thiêng liêng.

“quê nhà anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Vẻ đẹp tâm hồn nơi người lính không chỉ là phát ra từ những hiện thực khó khăn hiểm nguy mà còn phát ra từ vừng ánh sang lung lính, đúng là tình đồng đội. Vượt rừng đâu phải chuyện dễ dàng! Những căn bệnh quái ác, những đêm tối lạnh buốt xương, những thiếu thốn vật chất của đoàn quân mới được gầy dựng vội vã. Nhưng những người lính đã cùng nhau vượt qua. Họ lo cho nhau từng cơn sốt , từng miếng áo rách nát, quần vá. Với họ quan tâm tới những người đồng đội giờ đây cũng như là quan tâm chăm sóc cho chính mình. Ôi êm ấm biết mấy là cái xiết tay của đồng đội lúc gian khó. Cái xiết tay truyền đi hơi ấm, sức mạnh cho ý chí con người. Và cùng nhau , giúp đỡ nhau , những người lính vượt qua với tư thế ngẩng cao đầu trước mọi thử thách, nguy hiểm.

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh,

Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi.

Áo anh rách nát vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Cái khốn khó, gian truân hãy còn dài trên bước đường kháng chiến dân tộc. Nhưng Hình như trước mắt những con người này, mọi thứ không thể hiểm nguy . Trong đêm trăng vắng lặng, bát ngát giữa rừng hoang sương muối, những người lính vẫn kề vai, sát cánh cùng hướng mũi súng về phía kẻ thù.

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”

Sức mạnh của sự tin tưởng lẫn nhau, của sự quan tâm tới nhau giữa những người lính đã làm vững chắc thêm tình đồng đội trong họ. Bởi họ biết rằng khi cùng nhau thắp lên tình đồng chí vững bền, sức mạnh chung nhất sẽ là sức mạnh mạnh nhất. Mục đích chiến đấu vì quê nhà, vì Tổ quốc của họ sẽ càng mau chóng đạt được. Khi ý chí và mục đích hợp chung con đường , thì tình cảm giữa họ càng thắm thiết, sâu đậm. Đó là tình đồng chí giữa những người lính… không chỉ là dừng ở cung bật tình cảm giữa những người lính, bài thơ “Đồng Chí” còn mang ta đến chi tiết lãng mạn cao hơn ở cuối bài:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo.”

Người lính không cô đơn lạnh lẽo vì bên anh đã có đồng đội và cây súng, là những người bạn tin cậy nhất, tình đồng chí đã sưởi ấm lòng anh. Người chiến sĩ toàn tâm toàn ý hướng theo mũi súng . Chính lúc ấy, những anh bắt gặp một hiện tượng kì lạ.

“Đầu súng trăng treo.”

Nét sáng tạo độc đáo thể hiện bản lĩnh nghệ thuật của của Chính Hữu qua bài thơ đúng là hình ảnh này. Từ tình đồng chí, trải qua những thử thách không giống nhau, Chình Hữu đã tạo thành cái nhìn đầy chất thơ. Nếu hai câu thơ trên không phối hợp với hình ảnh “đầu súng trăng treo” thì nó khó có những giá trị đặc sắc. Ngược lại , nếu không tồn tại sự nâng đỡ của của hai câu thơ đó thì hình ảnh sẽ bị coi là thi vị hóa cuộc sống chiến đấu người lính. Sự quyện nhuần nhuyễn giữa hiện thực và chất thơ lãng mạn, bay bổng đã làm cho “đầu súng trăng treo“ trở thành một trong những hình ảnh đẹp nhất thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Câu thơ chỉ vỏn vẹn bốn từ nhưng nó bao hàm cả cái tình, cái ý và đặc biệt là sự cảm nhận tinh ý của Chính Hữu. Nhờ sự liên tưởng thong minh tài tình, tâm hồn giàu cảm xúc, Chính Hữu đã gợi lên một không gian bát ngát giữa vũ trụ bao la, nó có cái gì đó rất bồng bềnh, huyền bí, khó tả. Hình ảnh đó gây được ấn tượng thẩm mĩ sâu sắc với người đọc. đồng thời, nó trở thành hình tượng đa nghĩa độc đáo của thi ca. “Đầu súng trăng treo“ được xây dựng bằng bút pháp siêu thực . đầy chất thơ. Tại sao vậy? Chúng ta thực sự đánh giá cao không gian nghệ thuật hiện thực của “nuớc mặn đồng chua “,“ đất cày lên sỏi đá” và đặc biệt là không gian “rừng hoang sương muối“; nó đã góp phần tô đẹp thêm hình tượng vầng trăng, cây súng.

Hai hình ảnh này đối lập nhau rất rõ. Một bên là vầng trăng muôn thuở hấp dẫn và kì lạ, bình yên với thi ca. Nó hình tượng cho cuộc sống tươi đẹp, hòa bình, hạnh phúc của nhân loại, đồng thời cũng là ước mơ cuộc sống tươi đẹp hòa bình hạnh phúc . Nhưng trăng ở đây lại được đặt trong mối quan hệ với súng . Một bên là súng, súng hình tượng cho chiến tranh và cái chết nhưng súng cũng trở thành lí tưởng cao đẹp, tinh thần chiến đấu vì cuộc sống hòa dân dã tộc của người chiến sĩ . Trăng là vẻ đẹp lãng mạn, súng là hiện thực. Tuy đối lập , nhưng hai hình tượng này đã tôn thêm vẻ đẹp cho nhau , tạo thành vẻ đẹp hoàn mĩ nhất . Không phải ngẫu nhiên khi Chính Hữu đưa hai hình ảnh ngược nhau trong một câu thơ.

Qua đó ông muốn khẳng định cái khát vọng về một cuộc sống yên lành đầy chất thơ : để cho vầng trăng kia sang mãi , trong hoàn cảnh vương quốc lúc bấy giờ , mọi người phải cầm súng chiến đấu . rất có thể nói , hình ảnh “ Đầu súng trăng treo “ là một phát hiện thú vị, mới lạ độc đáo của Chính Hữu . Chính hữu đã sử dụng bút pháp hiện thực để tạo thành hình ảnh thơ vừa hiện thực vừa lãng mạn. Trăng và súng kết thành một không gian thơ trữ tình , là hình tượng cho tình thần dũng cảm , hào hoa muôn thuở của dân tộc nói chung và người lính nói riêng.

Bài thơ đã kết thúc nhưng nó sẽ còn sống mãi chừng nào con người vẫn chưa mất đi bản năng của chính mình: sự rung động. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh hơn lịch sử. Cùng tái hiện lại một thời đau thương nhưng vĩ đại và hình tượng người chiến sĩ , nhưng văn chương đang đi đến với người đọc theo con đường của trái tim , gây nên những xung động thẩm mỹ trong tâm hồn con người, làm thành sự xúc cảm tận đáy tâm hồn và những ấn tượng không thể nào quên. Đó là những năm đau thương chứng kiến những con người cao quý kiên trì, những người lính dũng cảm bất khuất. Họ không khô khan mà bầu nhiệt huyết nung nấu , tràn đầy lòng hy sinh, với tình đồng đội trong sáng, thân ái. Chính những điều đó làm bài thơ “Đồng Chí” trên những trang giấy vẫn có những lúc được lật lại, vẫn nhỏ từng giọt ngân vang, tưởng đến những con người thần kì mà bình dị với niềm tự hào kiêu hãnh, cho nay và mai sau mãi nhớ về.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 9 Bài văn so sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Đồng chí” của Chính Hữu (lớp 12) hay nhất, Top 9 Bài văn so sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Đồng chí” của Chính Hữu (lớp 12) hay nhất, Top 9 Bài văn so sánh hình ảnh người lính trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng và “Đồng chí” của Chính Hữu (lớp 12) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *