Top 6 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật (Ngữ văn 9) hay nhất

17-05-2021 6 13 0 0

Báo lỗi

Tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật được sáng tác năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ra mắt ác liệt. Bài thơ đã khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không tồn tại kính qua đó làm nổi trội hình ảnh những người chiến sĩ lái xe hiên ngang, dũng cảm, ung dung, lạc quan giữa bom đạn của kẻ thù với tinh thần đồng chí, đồng đội và một ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất vương quốc. Mời những bạn đọc tìm hiểu thêm một số bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật mà Toplist tổng hợp dưới đây.

123456

1


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 1

Có những tác phẩm đọc xong, gấp sách lại là ta quên ngay, cho tới lúc coi lại ta mới chợt nhớ là mình đã đọc rồi. Nhưng cũng có thể có những cuốn sách như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng chạm khắc trong tâm khảm.“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một tác phẩm như thế.

Bài thơ đã sáng tạo một hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không kính, qua đó làm nổi trội hình ảnh những người lính lái xe ở tuyến Trường Sơn với tư thế hiên ngang, dũng cảm, tươi trẻ, sôi nổi:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Hình ảnh những chiếc xe trần trụi, xây xước, móp méo, không kính, không đèn mà vẫn băng băng trên đường ra tiền tuyến, chở quân, chở súng đạn, lương thực hướng về miền Nam là hình ảnh thực và thường gặp trong những năm tháng chống Mĩ gian lao và hào hùng. Hình ảnh những chiếc xe không kính được mô tả cụ thể, chi tiết rất thực. Lẽ thường, để đảm bảo an toàn cho tính mạng con người, cho hàng hoá nhất là trong địa hình hiểm trở Trường Sơn thì xe phải có kính mới đúng. Ấy thế mà chuyện “xe không kính” lại là một trong thực tiễn, những chiếc xe “không kính” rồi “không đèn”, “không mui” ấy vẫn chạy băng ra tiền tuyến. Hình ảnh ấy, lần trước tiên và cũng là duy nhất cho tới nay khơi dậy cảm hứng thơ của Phạm Tiến Duật.

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi

Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của những chàng trai lái xe dũng cảm. Thật ra rất có thể nói một cách đơn giản: Xe không tồn tại kính vì bom giật, bom rung. Nhưng nhà thơ lại lựa cách nói như là muốn tranh cãi với ai. Giọng điệu ngang tàng, lí sự với cấu trúc không tồn tại…không phải vì không tồn tại…Giọng này tương thích với tính cách ngang tàng dũng cảm, đầy nghị lực, tính tếu nhộn của những lái xe Trường Sơn. Cách giải thích này cũng gợi lên cái ác liệt của chiến tranh, người lính luôn cận kề với hiểm nguy, với cái chết nhưng coi đó như chuyện bình thường. Chất thơ của câu thơ này hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ. Câu thơ rất gần với văn xuôi lại có giọng thản nhiên, ngang tàng Trong số đó ngày càng gây ra sự để ý về vẻ đẹp khác lạ của nó. Hình ảnh “bom giật, bom rung” vừa giúp ta hình dung được một vùng đất từng được mệnh danh là “túi bom” của dịch vừa giúp ta thấy được sự khốc liệt của chiến tranh và đó đó là nguyên nhân để những chiếc xe vận tải không tồn tại kính. Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe thuở đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng. Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

Mục đích mô tả những chiếc xe không kính là nhằm ca tụng những chiến sĩ lái xe Trường Sơn – chủ nhân những chiếc xe không kính. Những người lính lái xe điều khiển những chiếc xe không kính kì lạ trong tư thế ung dung, hiên ngang, bình tĩnh, tự tin. Đó là những con người tươi trẻ, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh. Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên phía ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh ý sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ tả thực, chính xác đến từng chi tiết. không tồn tại kính chắn gió, bảo hiểm, xe lại chạy nhanh nên người lái phải đối mặt với bao khó khăn nguy hiểm: nào là “gió vào xoa mắt đắng”, nào là “con đường chạy thẳng vào tim”, rồi “sao trời”, rồi “cánh chim” đột ngột, bất ngờ như sa, như ùa – rơi rụng, va đập, quăng ném…. vào buồng lái, vào mặt mũi, thân mình. có vẻ như chính nhà thơ cũng đang cầm lái, hay ngồi trong buồng lái của những chiếc xe không kính nên câu chữ mới sinh động và cụ thể, đầy ấn tượng, gợi cảm giác chân thực đến thế. Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Cảm giác, ấn tượng căng thẳng, đầy thử thách. Song người chiến sĩ không run sợ, hoảng hốt, trái lại tư thế những anh vẫn hiên ngang, tinh thần những anh vẫn vững vàng…. “ung dung…. nhìn thẳng. Hai câu thơ “ung dung…. thẳng” đã nhấn mạnh tư thế ngồi lái tuyệt đẹp của người chiến sĩ trên những chiếc xe không kính. Đảo ngữ “ung dung” với điệp từ “nhìn” cho ta thấy cái tư thế ung dung, thong thả, khoan thai, bình tĩnh, tự tin của người làm chủ, thắng lợi hoàn cảnh. Bầu không khí căng thẳng với “Bom giật, bom rung”, vậy mà họ vẫn nhìn thẳng, cái nhìn hướng về phía trước của một con người luôn coi thường hiểm nguy. Nhịp thơ 2/2/2 với những dấu phẩy ngắt khiến âm điệu câu thơ trở thành chậm rãi, như diễn tả thái độ thản nhiên đàng hoàng. Với tư thế ấy, họ đã biến những nguy hiểm trở ngại trên đường thành thú vui thích. Chỉ có những người lính lái xe với kinh nghiệm chiến trường dày dặn, từng trải mới có được thái độ, tư thế như vậy.

Tác giả đã diễn tả một cách cụ thể và gợi cảm những ấn tượng, cảm giác của người lái xe trên chiếc xe không kính. Với tư thế “nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”, những anh nhìn thấy từ “gió”, “con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. toàn cầu bên phía ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Điệp từ “nhìn” có tác dụng khẳng định tư thế, thái độ của người lính. Qua khung cửa xe không hề kính chắn gió, người lính lái xe tiếp xúc trực tiếp với toàn cầu bên phía ngoài “Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng / Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Câu thơ diễn tả được cảm giác về tốc độ trên chiếc xe đang lao nhanh không tồn tại kính chắn gió nên mới thấy đắng mắt, cay mắt, khi gió thổi thốc vào mặt. Qua khung cửa đã không tồn tại kính, không chỉ có mặt đất mà cả bầu trời với sao trời, cánh chim cũng như ùa vào buồng lái. Nhà thơ diễn tả chính xác những cảm giác mạnh và đột ngột của người ngồi trong buồng lái, khiến người đọc rất có thể hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác ấy như chính mình đang ở trên chiếc xe không kính. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

Vậy đấy, hai khổ thơ tả thực những khó khăn gian khổ mà những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đã trải qua. Trong khó khăn, những anh vẫn ung dung, hiên ngang bình tĩnh nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm gan góc chuyển hàng ra tiền tuyến. không tồn tại kính chắn gió, bảo hiểm, đoàn xe vẫn lăn bánh bình thường. Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút chạy trên đường.

Người lái xe trong bài thơ là những người chiến sĩ tươi trẻ. những anh rất tươi trẻ, hồn nhiên, tâm hồn gần gũi với thiên nhiên. Khó khăn gian khổ những anh coi thường. Xe hư hỏng không tồn tại kính, không tồn tại đèn, không tồn tại mui xe, thùng xe có xước, nhưng xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước. toàn bộ vì tiền tuyến, vì mặt trận, đó là khẩu hiệu của họ. Và những chiếc xe mang đầy thương tích vẫn lăn bánh ra mặt trận. rất có thể nói những người lái xe, người làm chủ phương tiện là yếu tố quyết định làm nên thắng lợi trên mặt trận vận tải và cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 2

Là một trong những khuôn mặt tiêu biểu của thế hệ những nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước, Phạm Tiến Duật mang về cho người đọc sự vui tươi, hồn nhiên, tinh nghịch trong thơ ông. Bài thơ về tiểu đội xe không kính có giọng điệu sôi nổi, tươi trẻ, dí dỏm làm nổi trội hình ảnh những anh chiến sĩ lái xe Trường Sơn ngang tàng, ung dung và lạc quan yêu đời.

Không như những nhà thơ khác, Phạm Tiến Duật đã thể hiện tính cách khác người của tớ ngay ở hai câu thơ mở đầu. Không mĩ lệ hóa, không dùng hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ để so sánh, không trau chuốt, không bóng bẩy, hình ảnh chiếc xe trong thơ Phạm Tiến Duật rất trần trụi, bình dị, không nguyên vẹn:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính.

Đơn giản là vì Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi nên xe không hề nguyên vẹn nữa. Thế nhưng, chiếc xe không kính ấy vẫn băng băng ra chiến trường.

Chiếc xe đầy tự tin, không hề lo sợ trước bom đạn khủng khiếp của giặc Mĩ. Khác với những gì trần trụi bên phía ngoài, đây là một chiếc xe dũng cảm, hiên ngang. Xe vẫn băng ra tiền tuyến trên những đoạn đường đầy hiểm nguy. Có khác chăng đó là hình tượng những anh chiến sĩ lái xe Trường Sơn. Vì xe không tồn tại kính nên những anh được tiếp xúc trực tiếp với toàn cầu bên phía ngoài. Gió, sao trời, cánh chim, và cả bầu trời rộng cũng ùa vào buồng lái, hòa cùng nhịp thở sống động của những anh:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

không tồn tại một sự ràng buộc hay rào cản nào ngăn cách những anh tiếp xúc với đất trời. Mà cả thiên nhiên cũng muốn thả mình với khí thế ấy. Chính vì thế mà những anh rất có thể nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng một cách rất thoải mái, tự nhiên.

không tồn tại kính thì điều kiện chiến đấu cũng thiếu thốn nhưng những anh vẫn yêu đời, vẫn tự tin vào thắng lợi. những anh xem mọi trở ngại chỉ là dịp để thử thách bản thân:

không tồn tại kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già.

vẫn chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau, mặt lấm, cười ha ha.

không tồn tại kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

vẫn chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Điệp cấu trúc không tồn tại kính … ừ thì vẫn chưa cần thể hiện tính cách ngang tàng, mặc kệ toàn bộ khó khăn. không tồn tại kính chắn bụi thì đương nhiên phải có bụi bám lên tóc, nhưng những anh vẫn không lo, cứ để vậy mà nhìn nhau, mặt lấm, cười ha ha. không tồn tại kính che mưa thì đương nhiên phải ướt áo, dù áo ướt nhưng những anh cũng mặc kệ, cứ để vậy mà lái tiếp bởi mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. những anh vẫn giữ cái tư thế ấy, hiên ngang mà sao yêu đời quá đi thôi! Dù có thiếu thốn, cực khổ đến đâu, những anh vẫn yêu thương, san sẻ cho nhau tình yêu thương:

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

có vẻ như trong chiến đấu gian khổ giúp chiến sĩ tôi rèn ý chí và giúp cho tình đồng đội của những anh thêm gắn bó, keo sơn. Dù vào sinh ra tử nhưng người lính vẫn hồn nhiên, vô tư và lạc quan tin tưởng. Chỉ một chiếc bắt tay qua khung kính vỡ rồi nhưng cũng đủ gieo vào nhau những tình cảm đẹp đẽ, những anh động viên nhau tiến bước quân hành. Tình cảm ấy đã làm những anh cảm thấy đầm ấm khi cùng chung tiểu đội:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa tức là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Tiểu đội của những anh như một gia đình vui vẻ, hạnh phúc. Ở đó có vẻ đẹp của sự sum họp, chan hòa. những anh có chung một điểm tựa, tâm hồn nên gia đình ở chiến trường của những anh đều cùng chung một nhiệm vụ thiêng liêng. những anh luôn tin tưởng vào tương lai đang chờ đón phía trước. Câu thơ lại đi, lại đi trời xanh thêm với năm thanh bằng và điệp ngữ lại đi đã tạo ra một âm điệu thanh thản, nhẹ nhàng.

Điều làm nên sự thắng lợi của những anh đó là lòng yêu nước, là ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà:

không tồn tại kính, rồi xe không tồn tại đèn

không tồn tại mui xe, thùng xe có xước,

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cản trong xe có một trái tim.

Ở những anh có sự tương phản rõ rệt giữa vật chất và tinh thần, giữa bên phía ngoài và bên trong, giữa cái không tồn tại và cái có. Bom đạn kẻ thù đã làm cho xe không tồn tại rất nhiều. Không kính, không đèn, không mui nên chiếc xe trở thành trần trụi đến kì lạ, xe không hề nguyên vẹn… Nhưng một thứ rất cần mà những anh đã có, đó là trái tim yêu nước. Trái tim đầy nhiệt thành cách mạng, sẽ thắng lợi những thiếu thốn về vật chất. Trái tim yêu nước đã điều khiển chiếc xe không nguyên vẹn ấy băng về phía trước, nơi miền Nam ruột thịt. Sức mạnh để xe băng mình ra trận đó là sức mạnh của trái tim người lính.

Với vật liệu hiện thực độc đáo, bài thơ thể hiện hình ảnh hào hùng của chiếc xe không kính, qua đó khắc họa nổi trội hình ảnh cao quý của người lính lái xe ở Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Qua bài thơ, ta càng thấy rõ phẩm chất của người lính Trường Sơn: mộc mạc, giản dị và vĩ đại. Chúng ta càng biết ơn những anh. Thế hệ trẻ Việt Nam nguyện tiếp bước những anh gìn giữ Tổ quốc Việt Nam mãi mãi trường tồn.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 3

Tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật được sáng tác năm 1969 trên tuyến đường Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ra mắt ác liệt. Bài thơ đã khắc họa nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe không tồn tại kính qua đó làm nổi trội hình ảnh những người chiến sĩ lái xe hiên ngang, dũng cảm, ung dung, lạc quan giữa bom đạn của kẻ thù với tinh thần đồng chí, đồng đội và một ý chí quyết tâm chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất vương quốc. Vì sao những chiếc xe làm nhiệm vụ này lại không tồn tại kính để chắn gió, chắn bụi, điều này được nhà thơ Phạm Tiến Duật giải thích trong hai câu đầu bài thơ:

không tồn tại không phải xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Như vậy, ở đây trải qua cách giới thiệu, cách giải thích độc đáo, người đọc biết được về lí do “xe không kính”: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Một lí do rất đơn giản nhưng đằng sau câu thơ chúng ta vẫn ngầm hiểu rằng tác giả muốn nói một điều khác, đó là cái không khí ác liệt của chiến trường, của chiến tranh. Đó là cái ác liệt của “bom giật, bom rung” của súng đạn quân thù. Câu thơ là một lời nói giản dị nhưng chứa đựng biết bao xót xa trước hiện thực khốc liệt của trận chiến tranh chống đế quốc tàn ác. Nó rất gần với văn xuôi, giọng điệu tinh nghịch, vui đùa pha chút ngang tàng biểu lộ thái độ bình thản, chấp thuận gian khó.

Hai câu thơ đầu, không chỉ có là lời giải thích mà còn phản ánh hiện thực chiến tranh. Vì vậy, hình ảnh “chiếc xe không kính” – hậu quả của trận chiến tranh ác liệt ấy trở thành một hình tượng độc đáo trong giai đoạn chống Mỹ.

Xe làm nhiệm vụ trên tuyến trường Trường Sơn gập ghềnh, khói lửa trong tình trạng không kính, chắc rằng những chiến sĩ lái xe sẽ cực kì vất vả. Nhưng không:

Ung dung buồng lái ta ngồi

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Tính từ “ung dung” và điệp từ “nhìn” thể hiện niềm sảng khoái bất tận, tư thế hiên ngang sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách của người chiến sĩ lái xe. Nếu như ở hai câu thơ trên, còn đang là “bom giật”, “bom rung” dữ dội, ác liệt, hiểm nguy; thì xuống những câu thơ này là tư thế “ung dung” của người lính. Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp đối lập ở đây, để làm nổi trội tư thế hiên ngang, quả cảm của những chiến sĩ. Họ không hề run sợ, sợ hãi trước bom đạn của quân thù, ngược lại, trong cái xe không tồn tại kính vì bom đạn ấy, những anh vẫn ung dung, tự tại. Hình ảnh những anh trở thành đẹp đẽ, phi thường như một bức tượng đài về người chiến sĩ cách mạng.

Hành động nhìn đất, nhìn trời mà còn là nhìn thẳng ấy như là hành động đối mặt trực tiếp với gian khó của trận chiến, không hề nao núng. Chứng tỏ, những anh đã rất bản lĩnh, hiên ngang. Vị trí từ “ung dung” trong câu thơ được đặt lên trước cả cụm chủ vị, trước cả trạng ngữ chỉ nơi chốn (buồng lái) để làm rõ tư thế đứng trên đầu thù của những chiến sĩ lái xe. Cách sử dụng nhịp thơ hai – hai – bốn, hình ảnh, ngôn ngữ thơ chân thực, thể hiện thái độ và tư tưởng người lính: tin tưởng và quyết tâm vượt qua gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ.

Qua đoạn thơ rất có thể thấy cách chọn chi tiết xe không kính để lập tứ của tác giả là rất độc đáo vì nó nói lên sự ác liệt, dữ dội của chiến tranh, nói về tinh thần vượt lên trên hiện thực khốc liệt của chiến tranh và cũng thể hiện được sự bất bình thường trong trận chiến đấu nhằm bộc lộ vẻ đẹp trong tâm hồn của những người chiến sĩ lái xe.

Đến đoạn thơ thứ hai, nhà thơ triệu tập làm rõ vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Đoạn thơ đã diễn tả về tốc độ chiếc xe đang lao nhanh với cảm giác mạnh, đột ngột bởi xe không tồn tại kính chắn gió nhưng cực kì lãng mạn. khiến người đọc hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác như chính mình đang ngồi trên chiếc xe không kính đó. Điệp từ “nhìn” nhằm nhấn mạnh, khắc sâu vẻ đẹp tỏa ra từ cách nhìn của người chiến sĩ. Anh nhìn “con đường”, nhìn những thử thách, gian truân với cùng 1 thái độ bình tĩnh, tự tin đến lạ thường.

Cách mô tả, diễn đạt của nhà thơ Phạm Tiến Duật thật tài tình, độc đáo và rất thật: khi xe không tồn tại kính, cảm giác về gió mạnh trực diện hơn; “nhìn thấy” gió mang theo bụi đường “xoa mắt đắng” và như càng thấy con đường phía trước: “chạy thẳng vào tim”. Hình ảnh “chạy thẳng vào”: vượt qua thử thách của chiến trường ác liệt là còn nhờ ở cả tìm cảm của những người lính biết rõ công việc mình làm vì ai và cho ai.

Đường ra trận gian nguy nhưng tâm hồn người lính vẫn đẹp, cách nhìn vẫn tinh ý, lạc quan: một ánh sao, một cánh chim đêm hôm lạc đàn cũng làm anh xao xuyến. Câu thơ thật dễ thương, lãng mạn, ngộ nghĩnh, đáng yêu. những hình ảnh “gió, sao trời, cánh chim” và cách dùng những từ ngữ “như sa, như ùa” cho thấy được sự hiểm nguy nơi chiến trường ác liệt trở thành sự thân thiện, thú vị giữa con người với thiên nhiên, thể hiện vẻ đẹp của tâm hồn người lái xe.

Từ hiện thực chiến tranh khốc liệt, hiểm nguy, từng giờ từng phút đối mặt với cái chết nhưng qua con mắt nhìn của Phạm Tiến Duật trở thành thật thi vị, lãng mạn. Với hai khổ thơ này, người đọc vừa hình dung được hiện thực của cuộc kháng chiến chống Mỹ, vừa cảm nhận được vẻ đẹp trong tâm hồn của người lính.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 4

Nguồn cảm hứng của bài thơ bắt đầu từ hình tượng những chiếc xe của “Tiểu đội xe không kính”. Tên bài thơ vừa độc đáo, vừa hiện thực, để lại ấn tượng mạnh cho người đọc. Xe vốn có kính;đó là chuyện bình thường. Chính ở chỗ không bình thường “xe không kính” mới là ngọn nguồn để tạo ra thơ. Vì sao lại có sự không bình thường ấy? Vì sao có cả một “tiểu đội xe không kính”? Không đứng ở vị trí quan sát ngoài cuộc, tác giả đứng ở vị trí người chiến sĩ của con đường Trường Sơn, hóa than vào tâm hồn người lính lái xe để tự reply và tâm sự.

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Với lối giải thích tự nhiên, đơn giản, câu thơ giàu chất văn xuôi, tác giả cho ta ngầm hiểu sau lời thơ đó là một điều khác: đâu phải tự nhiên xe không tồn tại kính. Lý do xe không kính là vì “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Thể thơ tự do phóng khoáng, hình ảnh cụ thể, nhịp thơ hai, hai, bốn biến đổi theo giọng thơ. Tác giả đã nêu lên hiện thực ở chiến trường, súng đạn quân thù đã làm “Kính vỡ”. Trong hoàn cảnh chiến tranh, những người lính lái xe vẫn lái những chiếc xe thiếu kính chắn gió ra trận.

Nếu câu trên đọc lên có cái gì đó ngộ nghĩnh thì đọc đến câu sau lòng ta bỗng chùng xuống. Bom giật , bom rung, sức mạnh tàn phá luôn dội xuống con đường, dội xuống cuộc sống như muốn phá vỡ, muốn làm trụi toàn bộ. Qua cái nhìn của người chiến sĩ lái xe, sự phá hủy của trận chiến tranh ở Trường Sơn là thế.

Nhưng, nhìn nhận trận chiến tranh ấy, dẫu nó tàn bạo, trong hai câu thơ vẫn không tồn tại một từ, một âm thanh, ẩn ý nào nói lên nỗi khiếp sợ, cay đắng. Người chiến sĩ nhắc đến chiến tranh như một yếu tố ngoại cảnh, một thử thách để chủ yếu là nói về thái độ của tớ. Qua cách giới thiệu hình ảnh tiểu đội lái xe , bằng lời thơ bình tĩnh, tự tin, hình ảnh với ngôn ngữ chân thực, tác giả ca tụng phẩm chất, tinh thần của người lính “Ung dung…nhìn thẳng”

Những câu thơ nhanh gấp mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn trên đường. So với ý của hai câu trên , ý ở hai câu này có sự đối lập. Đó là hoàn cảnh chiến trường đối lập với lại tư thế của người chiến sĩ. Chiến trường “Bom giật, bom rung” dội xuống ác liệt, hiểm nguy mà anh lính vẫn ung dung “ngồi đúng vị trí trong “buồng lái” đưa xe vượt Trường Sơn”. Câu thơ như bật ra từ trái tim người chiến sĩ lái xe sau tay lái. những anh có bình tĩnh, ung dung thật không? Chỉ không lo âu khắc khoải, chỉ có ung dung những anh mới “nhìn” và “thấy”.

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Cách ngắt nhịp hai, hai, hai khắc họa thái độ, tư tưởng người lính. Họ quyết tâm, tin tưởng vượt qua gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ. “Nhìn đất, nhìn trời” tức là rất ung dung, hiên ngang. “Nhìn thẳng” là nhìn về phía trước, nhìn vào con đường đi, nhìn vào nhiệm vụ của người lính lái xe, nhìn vào mục đích của trận chiến đấu. Như thế, bom cứ giật, cứ rung, con đường đi tới, ta cứ đi!

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 5

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã ghi dấu vẻ đẹp người lính là vẻ đẹp ở tư thế của người ra trận đầy khốc liệt trộn không lẫn của tuyến đường vận tải có một không hai trên toàn cầu, với cùng 1 khí phách lái xe mặc kệ mọi bom đạn nắng mưa, gió bụi, đói ăn, đói ngủ.

Bài thơ khắc hoạ nổi trội hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, thái độ mặc kệ khó khăn coi thường gian khổ hiểm nguy, niềm lạc quan sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, trái tim yêu nước nồng nhiệt của tuổi trẻ thời chống Mĩ. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện rất hay:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Với lối giải thích tự nhiên, đơn giản, câu thơ giàu chất văn xuôi, tác giả cho ta ngầm hiểu sau lời thơ đó là một điều khác: đâu phải tự nhiên xe không tồn tại kính. Lý do xe không kính là vì “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Thể thơ tự do phóng khoáng, hình ảnh cụ thể, nhịp thơ hai, hai, bốn biến đổi theo giọng thơ. Tác giả đã nêu lên hiện thực ở chiến trường, súng đạn quân thù đã làm “Kính vỡ”. Trong hoàn cảnh chiến tranh, những người lính lái xe vẫn lái những chiếc xe thiếu kính chắn gió ra trận.

Nếu câu trên đọc lên có cái gì đó ngộ nghĩnh thì đọc đến câu sau lòng ta bỗng chùng xuống. Bom giật, bom rung, sức mạnh tàn phá luôn dội xuống con đường, dội xuống cuộc sống như muốn phá vỡ, muốn làm trụi toàn bộ.Qua cái nhìn của người chiến sĩ lái xe, sự phá hủy của trận chiến tranh ở Trường Sơn là thế. Nhưng, nhìn nhận trận chiến tranh ấy, dẫu nó tàn bạo, trong hai câu thơ vẫn không tồn tại một từ, một âm thanh, ẩn ý nào nói lên nỗi khiếp sợ, cay đắng.Người chiến sĩ nhắc đến chiến tranh như một yếu tố ngoại cảnh, một thử thách để chủ yếu là nói về thái độ của tớ.Qua cách giới thiệu hình ảnh tiểu đội lái xe , bằng lời thơ bình tĩnh, tự tin, hình ảnh với ngôn ngữ chân thực, tác giả ca tụng phẩm chất, tinh thần của người lính “Ung dung…nhìn thẳng”.

Những câu thơ nhanh gấp mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn trên đường.So với ý của hai câu trên , ý ở hai câu này có sự đối lập.Đó là hoàn cảnh chiến trường đối lập với lại tư thế của người chiến sĩ. Chiến trường “Bom giật, bom rung” dội xuống ác liệt, hiểm nguy mà anh lính vẫn ung dung “ngồi đúng vị trí trong “buồng lái” đưa xe vượt Trường Sơn”. Câu thơ như bật ra từ trái tim người chiến sĩ lái xe sau tay lái. những anh có bình tĩnh, ung dung thật không? Chỉ không lo âu khắc khoải, chỉ có ung dung những anh mới “nhìn” và “thấy”.

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Cách ngắt nhịp hai, hai, hai khắc họa thái độ, tư tưởng người lính.Họ quyết tâm, tin tưởng vượt qua gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ. “Nhìn đất, nhìn trời” tức là rất ung dung, hiên ngang. “Nhìn thẳng” là nhìn về phía trước, nhìn vào con đường đi, nhìn vào nhiệm vụ của người lính lái xe, nhìn vào mục đích của trận chiến đấu. Như thế, bom cứ giật, cứ rung, con đường đi tới, ta cứ đi.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

6


Thai Ha

Bài tìm hiểu thêm số 6

Lớp cha trước lớp con sau

Đã thành đồng chí chung câu quân hành. (Tố Hữu)

Trải qua ba mươi năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, dân tộc ta đã làm nên kỳ tích hào hùng: đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. rất có thể nói, nhân vật trung tâm của thời đại đã làm nên huyền thoại, đó là anh bộ đội Cụ Hồ. Hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ trở thành cảm hứng đẹp trong thơ ca hiện đại. Trong số những bài thơ viết về đề tài này phải nói về Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật. Phạm Tiến Duật đã cảm nhận sâu sắc cuộc sống người chiến sĩ lái xe trên con đường Trường Sơn lịch sử trong những năm kháng Mĩ hào hung. Trên con đường Trường Sơn huyết mạch và nổi tiếng với tên thường gọi “đường mòn Hồ Chí Minh”, những chiếc xe thuộc đơn vị vận tải lao nhanh ra chiến trường. Nhà thơ viết về những chiếc xe và những chiến sĩ lái xe với phong thái thật độc đáo:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim.

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã ghi dấu vẻ đẹp người lính là vẻ đẹp ở tư thế của người ra trận đầy khốc liệt trộn không lẫn của tuyến đường vận tải có một không hai trên toàn cầu, với cùng 1 khí phách lái xe mặc kệ mọi bom đạn nắng mưa, gió bụi, đói ăn, đói ngủ. Bài thơ khắc hoạ nổi trội hình ảnh những người lính lái xe ở Trường Sơn trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ cứu nước, với tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm, thái độ mặc kệ khó khăn coi thường gian khổ hiểm nguy, niềm lạc quan sôi nổi của tuổi trẻ và ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam, trái tim yêu nước nồng nhiệt của tuổi trẻ thời chống Mĩ. Vẻ đẹp độc đáo được thể hiện rất hay và độc đáo.

Nguồn cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ hiện thực “chiếc xe không tồn tại kính” và càng bất ngờ, gây ấn tượng mạnh mẽ vì không chỉ có một chiếc xe thôi mà là cả một “tiểu đội xe không kính”. Hình ảnh những chiếc xe đó được nhấn mạnh:

không tồn tại kính không phải vì xe không tồn tại kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi…

Câu thơ thoạt nghe như lời kể lể, giải bày. Với ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giống như một lời nói của người chiến sĩ kể lể chiếc xe yêu quý mà mình đang sử dụng. Xe vốn thường có kính và chiếc xe có kính là chuyện bình thường, không tồn tại gì đáng nói, đáng quan tâm. Chi tiết tả thực “không tồn tại kính” mới gây sự để ý, bất ngờ và là một trong thực tiễn có sức khơi gợi mạch thơ. Nếu vế đầu của câu thơ có tính chất phủ định thì vế sau của câu thơ lại nhằm khẳng định, nhấn mạnh “không phải vì xe không tồn tại kính”. À, thì ra trước kia chiếc xe vẫn nguyên vẹn, lành lặn với những bộ phận đấy chứ. Vậy tại sao lại có sự không bình thường đó, vì sao cả một “tiểu đội xe không kính”? Nhà thơ vào tư thế, vị trí của người chiến sĩ lái xe để reply: Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi… Thì ra lí do, nguyên nhân cũng tại chiến tranh mà ra cả. Điệp ngữ “bom” phối kết hợp với những động từ “giật, rung” đã tái hiện lại không khí, tính chất khốc liệt, gay go của trận chiến đấu giữa ta và giặc, phơi bày và tố cáo thực chất hung bạo, ngông cuồng của quân giặc. “Mưa bom, bão đạn” của chúng dội xuống đường Trường Sơn thật dữ dội, ác liệt. Bọn chúng định dùng sức mạnh với những vũ khí hiện đại để chặn đường tiếp tế, tiến công của ta, làm lung lay ý chí, tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ. Sức ép của bom đạn khi nổ, những mảnh bom, đạn trúng vào khiến “kính vỡ đi rồi”. Lời thơ vẫn nhẹ nhàng thể hiện sự bình thản của người cầm lái. Trong hoàn cảnh chiến tranh,những người lính lái xe vẫn lái những chiếc xe thiếu kính chắn gió ra trận. Dẫu chiến tranh tàn bạo,trong hai câu thơ vẫn không tồn tại một từ,một âm thanh,ẩn ý nào nói lên nỗi khiếp sợ,cay đắng.Người chiến sĩ nhắc đến chiến tranh như một yếu tố ngoại cảnh,một thử thách để chủ yếu là nói về thái độ của tớ.

Đối lập với trong thực tiễn khó khăn, khắc nghiệt về điều kiện bởi những chiếc xe bị hư hại là thái độ của người chiến sĩ lái xe:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Những câu thơ nhanh gấp mà vẫn nhịp nhàng như bánh xe đang lăn trên đường. Hoàn cảnh chiến trường đối lập với lại tư thế của người chiến sĩ. Chiến trường “Bom giật,bom rung” dội xuống ác liệt,hiểm nguy mà anh lính vẫn “ung dung” ngồi đúng vị trí trong “buồng lái” đưa xe vượt Trường Sơn”. Câu thơ như bật ra từ trái tim người chiến sĩ lái xe sau tay lái. Từ “ung dung” đặt trong phép đảo ngữ diễn tả thái độ tự tin, bình tĩnh, không một chút nao núng, run sợ của người chiến sĩ. mặc kệ mọi trở ngại, gian khổ, mặc kệ những hiểm nguy, người lính vẫn vững vàng ngồi vào buồng lái để làm nhiệm vụ. Thái độ đó xuất phát từ phẩm chất gan góc, anh hùng. Từ chiếc xe không kính người chiến sĩ đã quan sát cảnh vật bên phía ngoài: Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Câu thơ viết theo nhịp 2-2-2 thật cân đối. Nó thể hiện sự nhịp nhàng, thăng bằng của chiếc xe đang lăn bánh và nhất là thái độ tự tin, bình tĩnh của người cầm lái. Điệp ngữ “nhìn” đã nhấn mạnh, khắc sâu vẻ đẹp từ cách quan sát của người chiến sĩ. Một vẻ đẹp xuất phát từ tâm. hồn, tấm lòng của anh. Cách nhìn chăm chú đó biểu lộ niềm yêu thương của anh với thiên nhiên, cuộc sống và sự quyết tâm, vững vàng trong nhiệm vụ. Anh “nhìn đất” để thêm gắn bó yêu thương con đường Trường Sơn hào hùng, thân thuộc, để dẫn đưa chiếc xe đi an toàn, mau đến đích. Anh “nhìn trời” để tâm hồn thêm lạc quan, bay bổng, thêm tin tưởng vào tương lai. Anh “nhìn thẳng” là nhìn về phía trước, nhìn vào con đường trước mặt cần vượt qua, nhìn vào nhiệm vụ đầy gian khổ, thử thách của tớ để thêm cương quyết, tích cực mà sẵn sàng đối phó, đương đầu với bao hiểm nguy, gian khổ. Bởi thế, mặc cho bom đạn gào thét, anh vẫn cứ tiến lên. Anh chiến sĩ lái xe thật dũng cảm, hào hùng biết bao!

Chiếc xe không hề bộ phận nào che chắn nên giờ đây người chiến sĩ đã tiếp xúc trực tiếp với bên phía ngoài khi chiếc xe lao đi:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim.

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái.

Những câu thơ rất thực, thực đến từng chi tiết. Những câu thơ chân thực, sống động, đầy ấn tượng như chính nhà thơ đang cầm vô lăng mà lái. Đoạn thơ đã diễn tả về tốc độ chiếc xe đang lao nhanh với cảm giác mạnh, đột ngột bởi xe không tồn tại kính chắn gió nhưng cực kì lãng mạn. khiến người đọc hình dung được rõ ràng những ấn tượng, cảm giác như chính mình đang ngồi trên chiếc xe không kính đó. Cảm giác của người chiến sĩ về cơn gió là cảm giác trực diện. Anh không chỉ có cảm thấy cơn gió vào “xoa” mắt đắng mà đã nhìn thấy cơn gió vô hình. Cơn gió có vẻ như cũng chẳng vô tình, gió đã vào “xoa” mắt đắng để làm giảm sút vị đăng đắng, sự khó chịu nơi mắt bởi những ngày đêm thức trắng để lái xe không ngừng nghỉ. Cảm giác ấy càng phát triển mạnh mẽ hơn khi anh “nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Sự liên tưởng thật đẹp và độc đáo khi chiếc xe lao tới, con đường đã chạy ngược về phía người lái. Sự tin tưởng tương thích với tấm lòng của người lái xe, đó là tấm lòng nhiệt tình, hăng say trong nhiệm vụ. Trái tim người chiến sĩ luôn dạt dào tình yêu Tổ quốc quê mà cụ thể là con đường thân thuộc gần gũi, con đường hứng chịu bao đạn bom, máu lửa. Chiếc xe vẫn lao nhanh, tiến lên vì người lính biết rõ mục đích, lí tưởng công việc cao quý của tớ là góp sức, hoạt động vĩ ai? Để làm gì? trận chiến đấu thật lắm hiểm nguy, thử thách nhưng tâm hồn người chiến sĩ vẫn luôn lãng mạn, bay bổng khi anh quan sát từ chiếc xe không kính để thấy “sao trời, cánh chim”… Có lẽ, tâm hồn anh phải hân hoan, phơi phới yêu đời nên mới có được cảm nhận “… như sa, như ùa vào buồng lái”. Nếu điệp ngữ “nhìn thấy” diễn tả thái độ quan sát chủ động của người chiến sĩ đối với cảnh vật thì động từ “thấy” lại nhấn mạnh đến sự xuất hiện bất ngờ, mau lẹ “đột ngột” của cánh chim đêm. Cách nhìn ấy thật tinh ý và lạc quan. Một ánh sao, một cánh chim lạc đàn cũng làm anh để ý, xao xuyến. Nhịp thơ trở thành nhanh gấp, sôi nổi thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên, sự lạc quan của người chiến sĩ. Đó cũng đó là thái độ chung của người chiến sĩ Giải phóng quân thời chống Mĩ. Như một nhà thơ đã từng viết:

Cuộc đời vẫn đẹp sao

Tình yêu vẫn đẹp sao

Dù đạn bom man rợ thét gào

Dù thân thể thiên nhiên mang đầy thương tích.

Bao khó khăn thử thách nhưng người lính lái xe vẫn không run sợ, hoảng hốt. Bởi những anh vẫn quyết tâm vượt qua gian khổ, để hoàn thành nhiệm vụ lớn lao.

Cội nguồn sức mạnh, nghị lực nơi người chiến sĩ là do mục đích, lí tưởng cao quý “vì Miền Nam thân yêu”. Giọng điệu bài thơ vừa ngang tàng lại vừa rất vui tươi, sôi nổi thể hiện thái độ quyết tâm trong nhiệm vụ, thử thách trước gian khổ. Lời thơ có chỗ nhẹ nhàng, cân đối như chiếc xe vẫn đang tiến tới, có chỗ gợi cảm, trong sáng như văng vẳng tiếng cười, tiếng hát. toàn bộ đã khắc họa hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ dũng cảm, kiên trì, bất khuất mà cũng rất lãng mạn, tươi trẻ, bình dị.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính thật là một bài thơ hay, đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhà thơ đã đặt tên cho tác phẩm là “Bài thơ về…”. Chất thơ tỏa ra từ trong thực tiễn trận chiến đấu, từ thú vui của người chiến sĩ trong thời đại chống Mĩ. Chất thơ toát ra từ sự giản dị, đơn sơ của ngôn từ, sự sáng tạo bất ngờ của những chi tiết, hình ảnh và sự uyển chuyển, linh hoạt của nhạc điệu… đã khắc họa đậm nét hình ảnh anh lính Cụ Hồ.

Tháng năm trôi qua, bài thơ vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ đối với mỗi người chúng ta ngày nay. Cảm ơn nhà thơ đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về những người chiến sĩ của một thời gian khổ mà hào hùng, đã quên mình để chiến đấu, hi sinh cho dân tộc, vương quốc. Phải sống sao cho xứng đáng để không hổ thẹn với cha anh, không phụ lòng của thế hệ cha anh, đó là tâm niệm của chúng ta khi thưởng thức bài thơ độc đáo này.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 6 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 6 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 6 Bài văn Cảm nhận 2 khổ thơ đầu trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật (Ngữ văn 9) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *