Top 5 Bài văn Phân tích ba khổ cuối bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt (Ngữ văn 9) hay nhất

22-04-2021 5 374 0 0

Báo lỗi

Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt được sáng tác năm 1963 khi nhà thơ đang là sinh viên theo học ngành Luật tại nước Nga xa xôi. Với giọng điệu tâm tình, thiết tha, chân thành cùng hình ảnh bếp lửa đầy sáng tạo mà hiện thực, bài thơ đã viết lên những dòng hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu. Qua đó, tác phẩm đã bộc lộ những tình cảm sâu nặng đối với gia đình, quê, vương quốc. Đặc biệt, những điều thân thiết, những kỉ niệm của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ chúng ta trên mỗi bước đường đời. Mời những bạn đọc xem thêm một số bài văn phân tích ba khổ cuối của bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt mà Toplist tổng hợp trong bài viết dưới đây để thấy rõ hơn điều đó.

12345

1


Thai Ha

Bài xem thêm số 1

Trong cuộc đời, ai cũng đều có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng đều có riêng một kỉ niệm, đó đó là những tháng năm sống bên bà, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương. không chỉ có thế, điều in đậm trong tâm trí của Bằng Việt còn là tình cảm sâu đậm của hai bà cháu. chúng ta cũng rất có thể cảm nhận điều đó qua bài thơ “Bếp lửa” của ông.

Bài thơ “Bếp lửa” được ông sáng tác năm 1963 lúc mười chín tuổi và đang đi du học ở Liên Xô. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia đình, quê, vương quốc. Tình cảm và những kỉ niệm về bà được khơi gợi từ hình ảnh bếp lửa. Ở nơi đất khách quê người, bắt gặp hình ảnh bếp lửa, tác giả chợt nhớ về người bà.

Những khổ đầu bài thơ “Bếp lửa” là hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà, là những hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa tuổi thơ. Sau những đoạn thơ hồi tưởng về thời ấu thơ được sống cùng bên bà của tôi, người cháu tiếp tục suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời của bà qua hình ảnh bếp lửa:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa, chứa niềm tin dai dẳng…”

Từ “bếp lửa” bài thơ đã gợi đến “ngọn lửa” với ý nghĩa sâu sắc trừu tượng và khái quát. “Bếp lửa” mà bà nhen lên trong những buổi sớm mai và buổi chiều tà không đơn giản chỉ bằng nguyên liệu của tự nhiên, mà cao hơn đã được tác giả nâng lên thành hình tượng cho tình yêu thương và niềm tin trong sáng, mãnh liệt. Điệp ngữ “một ngọn lửa” vừa có ý nghĩa sâu sắc nhấn mạnh đến sự sống dai dẳng bất diệt của ngọn lửa; lại vừa có ý nghĩa sâu sắc thể hiện tình yêu thương mà người bà dành riêng cho cháu. Ngọn lửa đó là hình ảnh khúc xạ cho tâm hồn, cho ý chí, nghị lực sống phi thường của người bà. Vì thế, bà không chỉ có là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người tiếp lửa, truyền lửa cho người cháu thân yêu. Đó là ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho thế hệ nối tiếp.

Từ suy ngẫm về vai trò của người bà trong cuộc sống, tác giả tiếp tục khẳng định phẩm chất cao quý của người bà: tảo tần, giàu đức hi sinh và giàu lòng nhân ái:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận hiện giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Cụm từ “biết mấy nắng mưa” gợi lên cuộc đời của người bà vất vả, gian truân, lận đận nhưng vẫn sáng lên những phẩm chất thiêng liêng, cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Điệp từ “nhóm” (bốn lần) gồm có rất nhiều nghĩa, nói lên ý nghĩa sâu sắc cao quý của công việc mà bà vẫn tiến hành mỗi sớm sớm, chiều chiều: Bà là người nhóm lửa và cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng, tỏa sáng trong những gia đình. Từ “ấp iu nồng đượm” gợi tả công việc nhóm bếp và ngọn lửa luôn đượm than hồng bởi bàn tay khéo léo, cần mẫn, chi chút của bà. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai còn nhóm lên cả niềm yêu thương, sự sẻ chia chung vui và tâm tình tuổi nhỏ của người cháu. Đến đây, hành động nhóm lửa của bà đâu đơn thuần chỉ là hành động nhóm bếp thông thường nữa mà cao hơn nó đã thành hình ảnh ẩn dụ biểu trưng cho ý nghĩa sâu sắc của công việc nhóm lửa của bà. Qua hành động nhóm lửa, bà muốn truyền lại cho người cháu hơi ấm của tình yêu, sự sẻ chia với mọi người làng xóm xung quanh. Và cũng chính từ hình ảnh bếp lửa, bà đã gợi dậy cả những kí ức tuổi thơ trong lòng của người cháu để cháu luôn nhớ về nó và đó cũng đó là luôn khắc ghi nhớ tới cội nguồn quê, vương quốc của dân tộc mình. Từ đó bếp lửa trở thành kì lạ, thiêng liêng “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”. Từ cảm thán “Ôi” phối kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng như phát hiện ra chân lý, điều kì diệu giữa cuộc đời bình dị. Bếp lửa và bà như hóa thân vào làm một, luôn rực cháy, bất tử thiêng liêng.

Khổ cuối bài thơ là lời bộc bạch chân thành của người cháu khi đã lớn khôn, trưởng thành. Dù cho khoảng cách về không gian, thời gian có xa xôi “khói trăm tàu, lửa trăm nhà, thú vui trăm ngả” nhưng người cháu vẫn luôn khắc khoải trong lòng nỗi nhớ khôn nguôi về bà, về bếp lửa:

“Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

– Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?”

Sự tương phản giữa quá khứ và hiện tại, giữa “khói lửa” của cuộc sống hiện đại với bếp lửa bình dị, đơn sơ của bà đã cho thấy sức sống bất diệt của ngọn lửa mà bà nhóm lên trong những sớm chiều luôn thường trực và sống mãi trong lòng của người cháu. Ngọn lửa ấy trở thành kỉ niệm của tuổi thơ về bà – một người truyền lửa, truyền sự sống, tình yêu thương và niềm tin “dai dẳng” bất diệt cho thế hệ tiếp nối. Chính vì thế nhớ về bà là nhớ về bếp lửa, nhớ về cội nguồn dân tộc. Bài thơ khép lại bằng câu hỏi tu từ thể hiện nỗi nhớ khôn nguôi và niềm hoài vọng xa xăm của người cháu luôn đau đáu, thiết tha nhớ tới tuổi thơ, nhớ tới gia đình, nhớ tới quê, vương quốc.

Bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt là một bài thơ dạt dào cảm xúc. Hình tượng bếp lửa được thể hiện độc đáo qua giọng điệu tâm tình, thiết tha; nhịp điệu thơ linh hoạt; phối kết hợp với lối trùng điệp được sử dụng biến hóa, khiến cho lời thơ với hình ảnh bếp lửa cứ tràn ra, dâng lên, mỗi lúc thêm nồng nàn, ấm nóng. Từ đó, khiến cho người đọc cảm thấy thật thấm thía, xúc động trước nỗi nhớ nhung da diết về những kỉ niệm ấu thơ của người cháu và cả tấm chân tình của nhà thơ đối với người bà kính yêu. Qua đó, chúng ta càng cảm thấy yêu, càng cảm thấy trân trọng hơn tình cảm đối với gia đình, với quê, vương quốc. Từ đó, ta mới thấm thía hết được lời bài hát của nhạc sĩ Trung Quân, thật ý nghĩa sâu sắc biết chừng nào:

“quê mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi

quê nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người…”

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ


2


Thai Ha

Bài xem thêm số 2

Bằng Việt thuộc thế hệ nhà văn trẻ được rèn luyện và trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ. Thành công nổi trội thứ nhất của Bằng Việt là bài thơ Bếp lửa (1963). Đó là một bài thơ viết về tình bà cháu, tình gia đình gắn liền với tình quê vương quốc. Sau khi xuất bản, tác phẩm này đã được bạn đọc đón nhận, làm nên tên tuổi Bằng Việt như một trong những nhà thơ hồn hậu, chân thành và da diết. Đặc biệt là ba khổ thơ cuối bài nâng bếp lửa lên thành hình tượng và để hình ảnh bà trở thành nền tảng vững chắc nâng bước tương lai cho người cháu bé nhỏ ngày nào.

Những khổ đầu bài thơ “Bếp lửa” là hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà, là những hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa tuổi thơ. Trong những ngày tháng vất vả ấy, bà vẫn giữ vững hy vọng, một niềm tin mãnh liệt vào kháng chiến:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Giữa tro tàn, mất mát, đau thương, bà lại nhóm lửa. Bếp lửa ân cần ấm cúng, nhẫn nại của bà tương phản hoàn toàn với ngọn lửa hung tàn, thiêu hủy dã man của bọn giặc. Bếp lửa bà nhen ấm nồng tình yêu thương, niềm tin trong sáng mà “lòng bà luôn ủ sẵn”, “chứa niềm tin dai dẳng”.

“Bếp lửa” bà nhen không chỉ có là bếp lửa thông thường nữa mà nó chứa ngọn lửa của nghĩa tình, ngọn lửa nhóm lên trong tâm hồn đứa cháu thơ một tình cảm rộng lớn. Đó là tình bà hằng ấp ủ, tình thương bao la dạt dào suốt cả cuộc đời bà luôn dành riêng cho cháu và những người thân yêu. Từ “bếp lửa” của lòng yêu gia đình và quê đất giờ trở thành hình ảnh “ngọn lửa” mang đậm giá trị hình tượng.

“Ngọn lửa” – đó là sự sống, là niềm hy vọng và niềm tin mãnh liệt của bà vào cuộc kháng chiến, vào một tương lai tươi sáng, một tương lai không tồn tại chiến tranh. vương quốc được độc lập, hòa bình, gia đình được sum họp, sum họp. Ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, soi sáng cả quãng đường cháu đi. Đây cũng là hình ảnh bao trùm, khái quát, là nét tình cảm tinh túy của cả bài thơ.

Hình ảnh người bà hiện lên thật mộc mạc mà rực rỡ, một người bà siêng năng, bền chắc, chắt chiu, giàu nghị lực và có tấm lòng hy sinh cao quý. Đó là hiện thân của người phụ nữ Việt Nam, người mẹ Việt Nam trong những trận chiến tranh khốc liệt, vừa anh hùng, trung hậu, dũng cảm, vừa rất mực đảm đang. Ba câu thơ như một nút nhấn, một điệp khúc khó quên trong bản tình khúc: tình bà thiêng liêng cao quý.

Hồi ức vẫn tồn tại đấy đó, hiện tại trong tâm trí nhà thơ chợt xuất hiện những dòng suy ngẫm và triết lý sâu xa:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận hiện giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

Cảm xúc “biết mấy nắng mưa” được lặp lại giống ở khổ một, đầu bài thơ:

“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”

Có phải đó là lời nhấn mạnh, sự tô đậm những nỗi cơ cực của cuộc đời bà? Cuộc đời người bà gói gọn trong hai chữ “lận đận”. Bao nhiêu khó khăn, vất vả, hiểm nguy, “biết mấy nắng mưa”, bà lặng lẽ chịu đựng để được lo lắng, chăm sóc cho con cháu. Đã mấy chục năm rồi, chiến tranh đã đi qua, gian khổ nhọc nhằn vẫn vẫn chưa vơi bớt, bà vẫn “giữ thói quen dậy sớm”. Cuộc đời bà cứ hiểm nguy, vất vả như vậy giá như không lúc nào dứt. Bà là người thức khuya dậy sớm, chịu nhiều vất vả nhất trong nhà nhưng bà cũng đó là người nhóm lên trong gia đình ngọn lửa của tình yêu thương:

“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

Từ “nhóm” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong khổ thơ như lời khẳng định: bà đó là người nhóm lên trong lòng cháu ngọn lửa của tình yêu thương, của đức hy sinh cao quý. Khi nhóm lên “lửa ấp iu nồng đượm”, bà đã dạy cho cháu tình yêu thương những người ruột thịt. Nhóm tình quê “khoai sắn ngọt bùi”, bà dạy cháu tình yêu thương xóm làng, yêu mảnh đất quê nghèo. Còn khi “nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”, bà dạy cháu phải luôn mở lòng ra với mọi người xung quanh.

Bên cạnh đó, bà cũng nhắc nhở cháu rằng không lúc nào được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã cùng trải qua. không chỉ có nhóm lên ngọn lửa đó ấm nồng và cháy sáng mãi trong lòng mọi người. Người bà kì diệu ấy đã nhóm dậy, khơi gợi, giáo dục và bồi đắp cho người cháu về cả thân xác lẫn tâm hồn, về ước mơ, lẽ sống của “tâm tình tuổi nhỏ”.

“Bếp lửa” của bà khó khăn, nhọc nhằn, vất vả. Bà nuôi cháu khôn lớn bằng bếp lửa ấy. Vậy mà giờ đây, cháu đã du học tận trời Nga xa xôi, xa bà, xa quê, xa Tổ quốc. Cuộc đời của cháu như một mẩu truyện cổ tích. Và ở đấy, bà là bà tiên hiền hậu, luôn nâng đỡ từng bước đi của cháu. Cháu đã trưởng thành từ bếp lửa của bà. Từ cuộc sống nghèo khổ, bà ươm mầm ước mơ cho cháu đi du học phương xa. toàn bộ những gì cháu có được ngày hôm nay đó là nhờ ngọn lửa trong bà, ngọn lửa ấy chắp cánh cho người cháu tự tin bay vào cuộc đời cao rộng.

Đứa cháu không thể trưởng thành, hay dù trưởng thành về thân xác nhưng tâm hồn cũng chẳng thể lớn khôn nếu không được nuôi dưỡng bằng ngọn lửa, bằng chính tấm lòng của người bà rất đỗi yêu thương. Người bà có một sức mạnh kì diệu từ trái tim, đã nhóm dậy trong tâm hồn đứa cháu biết bao tình cảm cao đẹp, chắp cánh cho ước mơ bay cao, bay xa để mai này cháu khôn lớn thành người.

Âm điệu câu thơ dạt dào, lan tỏa như lửa ấm hay đó đó là cảm xúc đang dâng trào trong trái tim để rồi nhà thơ phải thốt lên:

“Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Câu thơ chỉ có tám chữ mà có sức khái quát cả suy nghĩ lẫn tình cảm của tác giả dành riêng cho hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình ảnh “người bà – người giữ lửa”, nhóm lửa, truyền lửa, người xây đắp nên tuổi thơ cho cháu. Bà và bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của tác giả dù cho lúc này, hai bà cháu đang chia xa.

Dù giờ đây, tuy không được ở gần bên bà, ở gần quê nhưng tâm hồn của người cháu vẫn luôn hướng về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, nơi có người bà lặng lẽ, cô đơn:

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, thú vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhớ:

– Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?…”

nhiều năm dài đằng đẵng trôi qua. Đứa cháu năm xưa nay đã khôn lớn, được bà và tình yêu thương của bà chắp cánh bay tới những phương trời xa, rộng lớn; bay tới những cuộc sống đầy đủ, với nhiều thú vui, niềm hạnh phúc khắp nơi, khắp chốn. Vậy mà cháu vẫn không nguôi nhớ bà, không quên ngọn lửa của bà. Câu hỏi tu từ như một lời tự vấn, lời độc thoại:

“- Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?…”

Khép lại bài thơ thật khéo, thật hay, có sức ám ảnh day dứt trong tâm trí người đọc. Người cháu đang tự nhắc nhở bản thân mình luôn phải nhớ về “Bếp lửa” của quê, nhớ về bà, chỗ dựa tinh thần vững chắc cho chúng cháu phương xa. “Bếp lửa” vừa thực tiễn, vừa có ý nghĩa sâu sắc hình tượng cho sự yêu thương, niềm tin, nguồn cội gia đình và quê, sức sống bền chắc của con người.

Bài thơ khép lại bằng một dấu câu đặc biệt, dấu chấm lửng. Dấu câu như gợi mở về một bài học đạo lý tha thiết: sống chung thủy, nhân nghĩa; phải có lòng biết ơn, có cách đối xử ân tình với gia đình, với láng giềng, với quê, với nguồn cội.

Từ tình cảm bà cháu, bài thơ nâng dần thành tình cảm yêu làng quê, yêu Tổ quốc. Và hình tượng “bếp lửa” tượng trưng cho những kỷ niệm ấm lòng trở thành niềm tin thiêng liêng, kỳ diệu, in sâu vào tâm hồn tác giả; là hành trang để người cháu bước vào đời, nâng cánh ước mơ cho cháu ở những phương trời xa…

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

3


Thai Ha

Bài xem thêm số 3

“Bếp lửa” là một bài thơ hay viết về tình bà cháu. Trong số đó ba khổ thơ sau cùng đã để lại ấn tượng thực sự sâu sắc:

“Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Một lần nữa qua lời thơ của tác giả ta đã cảm nhận được sự khó nhọc của người bà khi ngày ngày, sớm chiều nhen bếp lửa. Tại sao bà rất có thể nhẫn nại hy sinh đến như vậy. Do trong lòng bà luôn có một ngọn lửa niềm tin ủ sẵn. Ngọn lửa của niềm tin vương quốc sẽ hòa bình độc lập, cuộc sống sẽ được nâng cao, không hề viễn cảnh đói nghèo nữa, vương quốc sẽ thống nhất với nhau, người thân và gia đình sẽ không hề chịu cảnh thoát li nữa mà sẽ về sum họp cùng bà lúc cuối đời. Là ngọn lửa của niềm tin đứa cháu mình sau này sẽ nên người, sẽ noi gương được cha mẹ, sẽ nhận thấy được sự khó nhọc của bà trong công việc nuôi dạy cháu từ đó người cháu rất có thể quyết tâm học thành tài để xây dựng vương quốc tươi đẹp hơn, giàu đẹp hơn. Bà luôn mong cháu sẽ góp sức mãi không nguôi cho tổ quốc giống như Thanh Hải trong “Mùa xuân nho nhỏ”:

“Một mùa xuân nho nhỏ

Lặng lẽ dâng cho đời

Dù là tuổi hai mươi

Dù là khi tóc bạc”

Nếu bài thơ dừng lại ở đây thì đã rất có thể xem là một áng thơ hay lắm rồi. Nhưng cảm xúc của đứa cháu khi nhớ về bà, nhớ về quãng đời cơ cực cùng bà nhóm lửa, nhớ về công lao dạy dỗ của bà…. qua những vần thơ giản dị mà thấm thía, với những điệp ngữ và từ ngữ được vận dụng một cách rất linh hoạt sáng tạo. Nhưng đến đây dòng tâm niệm của tác giả vẫn vẫn chưa nguôi. Vẫn thốt lên những câu thơ lay động tâm hồn:

“Giờ cháu đã đi xa

Có lửa trăm nhà, thú vui trăm ngả

Những vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?”

Dù cho tác giả đã hoàn thành nguyện ước của bà. Đã là một con người thành đạt, sống có ích cho xã hội. Đã sống trong một điều kiện đầy đủ tiện nghi “có lửa trăm nhà thú vui trăm ngả”. Nhưng lòng tác giả vẫn luôn hướng về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người. Bằng Việt sẽ mãi mãi không quên cái bếp lửa bà nhen, công lao dưỡng dục.

Bằng Việt đã cực kì khéo léo sử dụng những biện pháp nghệ thuật đặc sắc, cách gieo vần, láy điệp từ và những hình ảnh có sức thuyết phục cao và những liên tưởng độc đáo tạo thành giá trị cho bài thơ. Ta cảm nhận được ở đây tám lòng biết ơn sâu nặng, nhớ nhung da diết, tâm chân tình của nhà thơ đối với người bà yêu dấu.

Đọc “Bếp lửa” thêm một lần nữa, chúng ta cảm thấy trong lòng lại trào dâng niềm cảm xúc. Bài thơ đã khơi dậy cho chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, quê và vương quốc. Càng suy ngẫm, thấm từng lời thơ của bằng việt ta càng hiểu thế nào là nỗi nhớ quê.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

4


Thai Ha

Bài xem thêm số 4

Bằng Việt là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Một trong những tác phẩm nổi trội của ông là “Bếp lửa”. Bài thơ đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà cũng như tình bà cháu. Đồng thời tác giả còn thể hiện lòng kính, yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà hay cũng đó là đối với quê, gia đình, vương quốc. Đến với ba khổ thơ cuối, nhà thơ đã nói lên những suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời của bà cũng như hình tượng bếp lửa và nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà của người cháu xa quê.

Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở quốc tế. Bài thơ được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa” (1968). Đây là tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

Hình ảnh bếp lửa luôn gắn bó với những kỉ niệm được sống bên bà:

“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

Hình ảnh bếp lửa được kết tinh trong “ngọn lửa”, đó là ngọn lửa của tình yêu thương mà bà dành riêng cho cháu. Nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ “một ngọn lửa” phối kết hợp với những hình ảnh “lòng bà luôn ủ sẵn”, “ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng” để nhấn mạnh tình yêu thương êm ấm bà dành riêng cho cháu. Bà đó là người thắp lửa, giữ lửa và truyền lửa đến cháu – thế hệ trẻ tương lai.

Cuộc đời bà tương tự như biết bao người phụ nữ Việt Nam, phải chịu nhiều vất vả – “lận đận nắng mưa”. Suốt cả một đời bà tảo tần làm lụng lo cho con cho cháu:

“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận hiện giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

Nhóm nồi xôi gạo mới, sẻ chung vui,

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

Bằng Việt một lần nữa lại vận dụng triệt để biện pháp tu từ điệp ngữ “nhóm” cùng với những hình ảnh mang ý nghĩa sâu sắc hình tượng cao. Bà đã nhóm một “bếp lửa ấp iu nồng đượm” chứa đựng tình cảm êm ấm của bà. Bà còn nhóm cả “niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi” – đó là bài học về lòng yêu thương, đồng cảm mà bà đã dạy cho cháu. không chỉ có vậy, bà còn nhóm “nồi xôi gạo mới sẻ chia chung vui” – bà muốn dạy cháu biết sẻ chia. sau cùng, bà đã nhóm dậy “những tâm tình tuổi nhỏ” có tức là góp phần bồi đắp tâm hồn cháu. Từ hình ảnh bếp lửa được bà nhen nhóm mà dạy cho cháu biết bao bài học ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống. Câu thơ cuối vang lên: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa”. Đó giống như một tiếng reo vui, người cháu như phát hiện ra điều kỳ diệu giữa cuộc sống đời thường. Đến hiện giờ, khi nhớ về bà, cháu đã thấm nhuần được tình yêu thương và đức hi sinh của bà.

Để rồi đến khi trưởng thành, người cháu đã bộc lộ những nỗi niềm suy tư:

“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, thú vui trăm ngả,

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên vẫn chưa?”

Cho dù khi lớn lên, người cháu có được đi đến nhiều nơi, chứng kiến hình ảnh “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà” với thú vui, say mê về cuộc sống hiện đại. Nhưng vẫn không quên đi những kỉ niệm khó khăn bên người bà với “bếp lửa” chứa chan tình cảm vô bờ của bà. Kết thúc bài thơ là câu hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?” bộc lộ một niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu. Cũng là lời nhắc nhở bản thân phải ghi nhớ về những năm tháng được sống bên bà.

Như vậy, ba khổ thơ cuối của bài “Bếp lửa” chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. Tình cảm gia đình là cơ sở để cho nền tảng của tình yêu quê, vương quốc.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

5


Thai Ha

Bài xem thêm số 5

“Bếp lửa” là một trong những bài thơ hay viết về tình cảm bà cháu. Đặc biệt là đến với ba khổ thơ sau cùng, Bằng Việt đã thể hiện được những suy nghĩ về cuộc đời của bà, cũng như nỗi nhớ dành riêng cho bà.

Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở quốc tế. Khi xuất bản, bài thơ được đưa vào tập thơ “Hương cây – Bếp lửa” (1968). Đây là tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ. Hình ảnh trung tâm của bài thơ là “bếp lửa” đã đựng được nhiều ý nghĩa sâu sắc sâu sắc. Qua đó gửi gắm nhiều suy tư sâu sắc về tình cảm bà cháu – một tình cảm gia đình cũng rất đỗi thiêng liêng:

“Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận hiện giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

Nhóm nồi xôi gạo mới, sẻ chung vui,

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…

Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, thú vui trăm ngả,

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

– Sớm mai này, bà nhóm bếp lên vẫn chưa?”

Khi nhớ về bà, người cháu sẽ nhớ đến những năm tháng tuổi thơ sống bên bà. Mà hình ảnh bếp lửa trở thành quá gắn bó. Nhưng ở đây, tác giả không dùng “bếp lửa” và lại dùng “ngọn lửa” nhằm thể hiện một dụng ý nghệ thuật. “Ngọn lửa” đó là hình ảnh biến thể của “bếp lửa”. Khi sử dụng hình ảnh “ngọn lửa” sẽ có tính khái quát cao hơn. “Ngọn lửa” sẽ mang ý nghĩa sâu sắc hình tượng cho tình yêu thương của bà, là kết tinh của niềm tin mà bà truyền cho đứa cháu. Câu thơ “Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn” khẳng định rằng bà là người nhóm lửa, giữ lửa và truyền lửa cho thế hệ nối tiếp. không chỉ có vậy, bà còn mang về “Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng” tức là mang về niềm tin, hy vọng về tương lai.

Người bà trong bài thơ, suốt cả một cuộc đời đã làm việc vất vả vì con, vì cháu. Điệp từ “nhóm” phối kết hợp với hình ảnh “bếp lửa ấp iu nồng đượm”, “niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi” – đó là bài học về lòng yêu thương, đồng cảm mà bà đã dạy cho cháu. không chỉ có vậy, bà còn nhóm “nồi xôi gạo mới sẻ chia chung vui” – đó là sự sẻ chia mà bà đã giúp cháu nhận thấy. sau cùng, bà còn giúp nhóm dậy “những tâm tình tuổi nhỏ” – bà đã giúp cháu trở thành trưởng thành trong nếp nghĩ, nếp sống. Câu thơ “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa” giống như là một tiếng reo vui. Cháu đã phát hiện ra một điều thật kỳ lạ mà thú vị. Đó là bếp lửa bao nhiêu năm vẫn luôn hiện hữu trong trí nhớ của cháu, với những kỉ niệm thiêng liêng nhất.

Ngày hôm nay, khi đã trưởng thành, cháu nhớ về bếp lửa, nhớ về bà để rồi bộc lộ nỗi niềm chân thành mà sâu sắc. Dù khi lớn lên, cháu rất có thể tự mình đi đến nhiều nơi. Cháu được chứng kiến rất nhiều sản phẩm của văn minh đó là “khói trăm tàu”, “lửa trăm nhà” – sự say mê, vui thích của cuộc sống hiện đại. Nhưng cháu vẫn sẽ không quên đi những kỉ niệm về một năm tháng tuổi thơ khó khăn mà êm ấm bên người bà yêu dấu. Câu hỏi tu từ: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên vẫn chưa?” gửi gắm một niềm tin dai dẳng về tương lai phía trước. Cháu hy vọng về tương lai – sẽ có một cuộc sống đẹp đẽ hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng tình cảm của cháu thì vẫn không hề thay đổi.

Bài thơ “Bếp lửa” đã gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà cũng như tình bà cháu. Đồng thời tác giả còn thể hiện lòng kính, yêu trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà hay cũng đó là đối với quê, gia đình, vương quốc.

Hình minh hoạ
Hình minh hoạ

Từ khóa: Top 5 Bài văn Phân tích ba khổ cuối bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Bài văn Phân tích ba khổ cuối bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt (Ngữ văn 9) hay nhất, Top 5 Bài văn Phân tích ba khổ cuối bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt (Ngữ văn 9) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *