Top 10 Nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại

19-07-2021 10 989 1 0

Báo lỗi

Bóng đá nữ là một trong những môn thể thao đồng đội nữ phổ biến trên trái đất. Bóng đá nữ được tranh tài ở tầm chuyên nghiệp hoặc bán chuyên ở một số vương quốc trên trái đất và hiện có 176 đội tuyển vương quốc tham gia tranh tài quốc tế.

Lịch sử bóng đá nữ đã chứng kiến sự phát hành của nhiều giải đấu ở cả cấp độ vương quốc và quốc tế. Bóng đá nữ trải qua nhiều khó khăn trong quy trình phát triển, đặc biệt là lệnh cấm bóng đá nữ của FA giai đoạn 1921 – 1971. Sau khi được công nhận, bóng đá nữ nhanh gọn phát triển, vật chứng là việc chất lượng cơ sở vật chất phục vụ cho giải trái đất vào năm 2015 tốt hơn rất nhiều lần so với kì giải trước tiên vào năm 1991. Bóng đá hoàn toàn có thể coi là môn thể thao giành cho phái nữ được phân bố rộng rãi nhất, và số lượng đội tuyển vương quốc nữ tham gia vào FIFA vẫn không ngừng ngày càng tăng. tiếp về sau Toplist sẽ giới thiệu đến những bạn những nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại trong lịch sử bóng đá trái đất.

12345678910

1


Mai Gạo

Marta (Brazil)

Marta Vieira da Silva sinh ngày 19 tháng 2 năm 1986, thường được gọi là Marta, là một cầu thủ bóng đá người Brazilmang cả hai quốc tịch Brazil và Thụy Điển. Cô chơi cho Orlando Pride trong Giải bóng đá nữ vương quốc và đội tuyển vương quốc Brazil với tư cách là một tiền đạo. Cô ấy giữ kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong Bóng đá quốc tế Brazil, nam hay nữ, với 109 bàn cho vương quốc của tôi. Với 17 bàn thắng, cô cũng đang giữ kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong những giải đấu FIFA World Cup (nữ hoặc nam). Hơn nữa, cô ấy là cầu thủ bóng đá thuộc bất kỳ giới tính nào trước tiên ghi bàn tại 5 kỳ World Cup, một kỳ tích của Christine Sinclair vào năm 2019. Ở cấp độ câu lạc bộ, Marta đã giành được UEFA Women’s Cup tại câu lạc bộ Thụy Điển Umeå IK vào năm 2004 và giành được bảy chức vô địch giải đấu Thụy Điển trong thời gian cô ấy chơi cho những đội không giống nhau trong nước. Marta thường được coi là nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại. Cô ấy đã được bầu chọn là Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA , 5 trong số đó là liên tiếp (từ năm 2006 đến năm 2010) và phần thưởng mới nhất đến vào năm 2018.


Marta Vieira da Silva là thành viên của những đội tuyển vương quốc Brazil đã giành huy chương bạc tại Thế vận hội mùa hè 2004 và 2008. Cô cũng đã được trao Quả bóng vàng (MVP) tại Giải vô địch bóng đá nữ U19 trái đất năm 2004 và giành được cả giải Quả bóng vàng với tư cách là cầu thủ xuất sắc nhất và phần thưởng Chiếc giày vàng với tư cách là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 2007 sau khi dẫn dắt Brazil đến trận chung kết của giải đấu. Vào tháng 1 năm 2013, cô được vinh danh là một trong sáu Đại sứ của FIFA World Cup 2014 tại Brazil, cùng với Amarildo, Bebeto, Carlos Alberto Torres, Ronaldo và Mario Zagallo. Cô cũng xuất hiện trong loạt phim tài liệu truyền hình Sveriges Television The Other Sport từ năm 2013. Vào tháng 8 năm 2016, Marta là một trong tám người được mang Cờ Olympic trong Thế vận hội Olympic ở Rio de Janeiro. Bà được bổ nhiệm bởi Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc như một mục tiêu phát triển bền vững ủng hộ. SDG là 17 mục tiêu toàn cầu được đề ra với hy vọng làm cho trái đất trở thành một nơi đẹp đẽ hơn, và 17 người ủng hộ đã được chỉ định để giúp hoàn thành mục tiêu đó.

Marta (Brazil)
Marta (Brazil)
Marta (Brazil)
Marta (Brazil)


2


Mai Gạo

Mia Hamm (Mỹ)

Mariel Margaret “Mia” Hamm-Garciaparra sinh ngày 17 tháng 3 năm 1972 tại Selma, Alabama, là một nữ cầu thủ bóng đá người Mỹ. cô chơi nhiều năm trong đội tuyển bóng đá nữ vương quốc Hoa Kỳ ở vị trí tiền đạo và là thành viên sáng lập Washington Freedom. Với 158 bàn thắng quốc tế trong sự nghiệp của tôi, cô từng là cầu thủ có nhiều bàn thắng cho đội tuyển vương quốc hơn bất kể cầu thủ nào khác, kể cả nam hay nữ cho tới năm 2013 khi cầu thủ đồng hương Abby Wambach ghi bàn thắng thứ 159. Hamm hai lần được chọn là Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm trong hai lần trao giải trước tiên (2001 và 2002) và được có mặt trong danh sách 125 cầu thủ vĩ đại còn sống do Pelé bầu chọn. Cô giải nghệ năm 2004, sau khi đội tuyển Mỹ giành thắng lợi ở Thế vận hội Mùa hè 2004. Cô được ghi danh vào National Soccer Hall of Fame cũng như Alabama Sports Hall of Fame, Texas Sports Hall of Fame, và World Football Hall of Fame. Mia Hamm là tác giả của cuốn Go For the Goal: A Champion’s Guide to Winning in Soccer and Life và xuất hiện trong phim tài liệu của kênh HBO có tên Dare to Dream: The Story of the U.S. Women’s Soccer Team. Vào năm 2005, cây viết của Washington Post là Michael Wilbon coi Hamm, “có lẽ là vận động viên quan trọng nhất trong 15 năm qua.”

Hamm lên tuyển vương quốc năm 15 tuổi, trở thành cầu thủ trẻ nhất từng tranh tài cho đội tuyển vương quốc. Vào năm 1991, cô là cầu thủ trẻ nhất có tên trong danh sách đội tuyển Hoa Kỳ dự kỳ World Cup nữ trước tiên ở Trung Quốc. Trong trận đấu trước tiên tại giải, Hamm ghi bàn thắng ấn định tỉ số ở phút 62 giúp Hoa Kỳ thắng 3 – 2 Thụy Điển. Hoa Kỳ gặp Brasil ở trận đấu thứ hai vào trong ngày 19/11. Họ giành thắng lợi 5 – 0 với những bàn thắng của Carin Jennings, Michelle Akers, Hamm và hai bàn của April Heinrichs. Sau khi lần lượt vượt qua Nhật Bản ở trận cuối vòng bảng, Trung Hoa Đài Bắc ở trận tứ kết và Đức ở bán kết, Hoa Kỳ của Hamm đối đầu với Na Uy trong trận chung kết. Hamm cùng Hoa Kỳ lần trước tiên vô địch trái đất sau thắng lợi 2 – 1 trước sự việc chứng kiến của 63.000 khán giả. Trong phần lớn sự nghiệp của Hamm không hề có một giải vô địch bóng đá chuyên nghiệp Hoa Kỳ. Do đó cô chỉ tranh tài có ba mùa giải bóng đá chuyên nghiệp. Vào năm 2001, cô là cầu thủ đóng góp vào sự phát hành của Women’s United Soccer Association, giải bóng đá nữ chuyên nghiệp trước tiên tại Hoa Kỳ, tranh tài cho đội Washington Freedom. Trong trận khai mạc giữa Freedom và Bay Area CyberRays trên Sân vận động RFK ở Washington, Hamm đem về cho đội nhà một quả phạt đền gây tranh cãi. Pretinha tiến hành thành công quả phạt đền đó và là người ghi bàn thắng trước tiên tại giải. Đây cũng là bàn thắng duy nhất của trận đấu.

Mia Hamm (Mỹ)
Mia Hamm (Mỹ)
Mia Hamm (Mỹ)
Mia Hamm (Mỹ)

3


Mai Gạo

Michelle Akers (Mỹ)

Michelle Akers sinh 1 tháng 2 năm 1966 tại Santa Clara, California, là một trong những cầu thủ bóng đá nữ xuất sắc nhất của Hoa Kỳ. Akers là thành viên của đội tuyển bóng đá nữ vương quốc Hoa Kỳ đã giành chức vô địch giải bóng đá nữ trái đất năm 1991 và 1999. Tên của Akers đã được lưu trong “Nhà lưu danh những cầu thủ bóng đá” của Mỹ. Akers là người phụ nữ thứ ba được lưu danh. Trong thời gian từ 1985 – 1990, Akers ghi 15 bàn trong 24 trận đấu cho đội tuyển Mỹ. Ở mùa giải 1991, Akers lập kỉ lục khi ghi 39 bàn trong 26 trận. Akers cũng đó là vua phá lưới ở World Cup Nữ 1991, tổ chức ở Trung Quốc, với 10 bàn, Trong số đó có trận Akers đã ghi tới 5 bàn.

Năm 1996, Akers cùng đội tuyển Mỹ tham gia Olympics mùa hè tổ chức tại Atlanta, Georgia và giành được huy chương vàng. Năm 1999, đội tuyển Mỹ đoạt cup vô địch sau khi thắng Trung Quốc trên chấm 11m và Akers được bầu vào đội hình tiêu biểu của giải. Trong suốt sự nghiệp tranh tài của tôi Akers đã ghi 105 bàn thắng Trong số đó có những bàn thắng quan trọng như bàn thắng trước tiên trong lịch sử của đội tuyển nữ Mỹ, hai bàn thắng trong trận chung kết Giải bóng đá nữ trái đất năm 1991 và quả penalty thành công loại đội Brasil tại vòng thi bán kết tại giải bóng đá nữ trái đất vào năm 1999. Akers giải nghệ vào năm 2000. Sau khi giải nghệ Akers vẫn tiếp tục tham gia vào việc phát triển bóng đá và viết một số sách. Năm 2002, Akers được FIFA bầu là cầu thủ nữ hay nhất thế kỉ và năm 2004 Akers cùng Mia Hamm là hai cầu thủ nữ được Pelé lựa chọn vào danh sách 125 cầu thủ còn sống xuất sắc nhất.

Michelle Akers (Mỹ)
Michelle Akers (Mỹ)
Michelle Akers (Mỹ)
Michelle Akers (Mỹ)

4


Mai Gạo

Birgit Prinz (Đức)

Birgit Prinz sinh ngày 25 tháng 10 năm 1977 tại Frankfurt am Main, là cựu cầu thủ bóng đá nữ Đức. Cô từng chơi cho 1. FFC Frankfurt và đội tuyển vương quốc Đức. Prinz là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng thứ hai tại những kỳ World Cup với 14 bàn (sau Marta của Brasil). Cô được bầu là cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm 2003, 2004 và 2005. vào trong ngày 12 tháng 8 năm 2011, cô tuyên bố giải nghệ. Prinz bắt đầu sự nghiệp ở SV Dörnigheim FC. Cô tranh tài lần đầu tại Bundesliga cùng câu lạc bộ FSV Frankfurt, đội bóng mà cô góp sức từ năm 1993 tới 1998. Trong thời gian này Prinz giành hai chức vô địch Bundesliga và hai Cúp vương quốc Đức. Cô là vua phá lưới của Bundesliga vào những năm 1997 và 1998. Sau đó cô chuyển tới đội bóng cùng thành phố 1. FFC Frankfurt. Trong 13 mùa giải tại đây, Prinz giành sáu Bundesliga và tám Cúp vương quốc. Cô cũng là vua phá lưới Bundesliga thêm hai lần vào những năm 2001 và 2007. Prinz giành UEFA Women’s Cup ba lần cùng Frankfurt vào những mùa giải 2001 – 2002, 2005 – 2006 và 2007 – 2008. Cô cũng nào chung kết năm 2004, nhưng Frankfurt thua Umeå IK của Thụy Điển.

Prinz tranh tài hai mùa giải cho Carolina Courage tại giải chuyên nghiệp WUSA của Mỹ và cùng đội mang về chức vô địch năm 2002. Sau World Cup 2003, Prinz từ chố lời đề nghị từ câu lạc bộ bóng đá nam AC Perugia của Serie A, vì cô lo sợ rằng đây chỉ là hành động nhằm hấp dẫn sự để ý của câu lạc bộ này và cô sẽ chỉ được ngồi ghế dự bị. Trong thời gian ở FFC Frankfurt, Prinz giành nhiều phần thưởng cá nhân, gồm có cả kỷ lục 8 lần liên tiếp đoạt giải Cầu thủ bóng đá nữ Đức của năm từ 2001 tới 2008. Cô được bầu là Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của FIFA vào những năm 2003, 2004 và 2005. Từ năm 2007 tới 2010 cô về nhì sau Marta của Brasil. Prinz tranh tài trận quốc tế trước tiên lúc 16 tuổi vào trong ngày 27 tháng 7 năm 1994 tại Montréal gặp Canada. Cô được thay vào ở phút thứ 72, thay thế Heidi Mohr và ghi bàn thắng trước tiên của cô trong một trận tranh tài quốc tế vào phút thứ 89, mang lại thắng lợi cho đội tuyển Đức với tỉ số 2:1. Năm 1995, cô giành danh hiệu lớn trước tiên tại vòng chung kết Euro 1995, đồng thời ghi bàn trong trận chung kết. Cô cũng đều có mặt trong đội hình Đức năm đó tại Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 1995, giải đấu mà Đức để thua Na Uy trong trận chung kết. Cô giữ kỷ lục cầu thủ trẻ nhất từng tranh tài một trận chung kết World Cup.

Birgit Prinz (Đức)
Birgit Prinz (Đức)
Birgit Prinz (Đức)
Birgit Prinz (Đức)

5


Mai Gạo

Abby Wambach (Mỹ)

Mary Abigail “Abby” Wambach sinh ngày 2 tháng 6 năm 1980, là cựu cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, huấn luyện viên, người hai lần giành huy chương vàng Thế vận hội và vô địch giải vô địch bóng đá nữ trái đất. Wambach bắt đầu tranh tài cho đội tuyển Hoa Kỳ từ năm 2001, giữ kỷ lục là cầu thủ bóng đá (cả nam và nữ) có số bàn thắng quốc tế nhiều nhất với 184 bàn. Wambach giành phần thưởng Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm 2011 và là người Mỹ trước tiên trong mười năm nhận phần thưởng này. Cô có tên trong danh sách những người tác động nhất trên trái đất năm 2015 của Time 100. Wambach tranh tài bóng đá ĐH cho đội Florida Gators trong thời gian học ở ĐH Florida và giúp đội giành chức vô địch NCAA Division I Championship. Cô tranh tài chuyên nghiệp cho Washington Freedom, magicJack, và Western New York Flash. Wambach tranh tài. Cô tham gia bốn kỳ World Cup và một kỳ Thế vận hội, tranh tài tổng số 29 trận và ghi 22 bàn ở những giải đấu này. Vào năm 2011, cô trở thành cầu thủ bóng đá trước tiên nhận giải Vận động viên của năm do Associated Press trao.


Wambach
thông báo nghỉ tranh tài ngày 27 tháng 10 năm 2015. Cô tranh tài trận sau cuối vào trong ngày 16 tháng 12 năm 2015 tại New Orleans khi đội tuyển Hoa Kỳ chơi trận sau cuối trong chuỗi 10 trận thuộc chuyến du đấu Victory Tour sau Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 2015. Sau khi được học bổng thể thao, Wambach đã đồng ý tham gia học bổng với tư cách là đại diện cho trường ĐH Florida ở Gainesville, nơi cô chơi cho đội bóng đá nữ Florida Gators của huấn luyện viên Becky Burleigh từ năm 1998-2001. trong những khi chơi cho Florida Gators, cô đã giúp đội bóng giành được một chức vô địch vương quốc NCAA (1998) và bốn cúp Liên đoàn Đông Nam liên tiếp (SEC) trong những năm 1998, 1999, 2000, 2001. Riêng cô là cầu thủ xuất sắc nhất của giải SEC năm 1998. Tuy là một sinh viên năm nhất nhưng cô đã có tên trong danh sách All-American (1998), All-SEC lựa chọn cô trong danh sách bốn mùa giải liên tiếp (1998, 1999, 2000, 2001), hai lần là cầu thủ năm (2000, 2001) của SEC, hai lần nhận danh hiệu cầu thủ giá trị nhất giải đấu SEC (2000, 2001) và có tên trong đội hình All-American thứ hai của tôi vào năm 1998 mùa nghiệp dư, và mùa cao cấp.

Abby Wambach (Mỹ)
Abby Wambach (Mỹ)
Abby Wambach (Mỹ)
Abby Wambach (Mỹ)

6


Mai Gạo

Homare Sawa (Nhật Bản)

Sawa Homare sinh ngày 6 tháng 11 năm 1978 ở Fuchū, Tokyo, là một cựu cầu thủ bóng đá nữ người Nhật Bản. Cô là đội trưởng đội tuyển Nhật Bản giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 2011 và huy chương bạc Thế vận hội 2012. Vào năm 2012, cô vinh hạnh nhận giải Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của FIFA năm 2011. Cô từng tranh tài cho Atlanta Beat của giải WUSA, Washington Freedom của WPS, NTV Beleza và INAC Kobe Leonessa của Nhật. Với sự phát hành của giải bóng đá nữ chuyên nghiệp Hoa Kỳ Women’s United Soccer Association (WUSA) vào năm 2001, Sawa ký hợp đồng với câu lạc bộ Atlanta Beat. Cô là người ghi bàn trước tiên của câu lạc bộ này, cũng như là nhân tố chủ chốt trong ba mùa giải của Beat tại giải đấu này. Sau khi WUSA giải thể năm 2003, Sawa quay về Nhật Bản để đầu quân cho NTV Beleza. Năm 2004, cô nhận danh hiệu Cầu thủ bóng đá nữ của năm do Liên đoàn bóng đá châu Á trao tặng. Sawa có trận đấu trước tiên cho đội tuyển Nhật Bản vào trong ngày 6 tháng 12 năm 1993 gặp Philippines khi cô mới 15 tuổi. Cô thậm chí còn có bốn bàn thắng trong trận đấu này. Cô là nhân tố không thể thiếu trong đội hình Nhật Bản tham gia sáu kì World Cup và bốn kỳ Thế vận hội. Cô là người tranh tài nhiều nhất cũng như ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển vương quốc Nhật bản với tổng số 83 bàn trong 205 trận.

Dấu ấn lớn nhất trong sự nghiệp của Sawa là tại Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 2011. Sau khi hòa 2 – 2 với Hoa Kỳ trong thời gian tranh tài chính thức và hiệp phụ (Sawa ghi bàn ở phút thứ 117), Nhật Bản giành thắng lợi trong loạt luân lưu với tỉ số 3 – 1 trong trận chung kết tại Frankfurt, Đức để lần đầu lên ngôi vô địch trái đất. Sawa cũng được trao giải Chiếc giầy vàng nhờ ghi được năm bàn thắng cũng như giải Quả bóng vàng cho cầu thủ xuất sắc nhất. vào trong ngày 9 tháng 1 năm 2012, Sawa nhận giải Cầu thủ nữ xuất sắc nhất năm của FIFA tại Zürich, Thụy Sĩ. Cô tuyên bố từ giã sự nghiệp tại đội tuyển vào tháng 8 năm 2012 sau khi giúp Nhật Bản giành huy chương bạc Thế vận hội Luân Đôn 2012. Tuy nhiên Sawa quyết định quay về tranh tài cho Nhật Bản vào năm 2014, giúp đội lên ngôi vô địch tại Cúp bóng đá nữ châu Á 2014. Vào năm 2015 cô quay về đội tuyển vương quốc sau một năm chấn thương và ghi lại sự quay về bằng bàn thắng từ đường chuyền của Miyama Aya trong trận giao hữu với New Zealand. Tại Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 2015 ở Canada, Sawa cùng Formiga của Brasil trở thành những người trước tiên góp mặt ở sáu kì World Cup. Ở giải đấu này Nhật Bản về thứ nhì sau khi thua Hoa Kỳ trong trận chung kết với tỉ số 2 – 5. Sau giải đấu này, Sawa Homare chính thức giã từ sự nghiệp tranh tài quốc tế sau 24 năm tranh tài chuyên nghiệp.

Homare Sawa (Nhật Bản)
Homare Sawa (Nhật Bản)
Homare Sawa (Nhật Bản)
Homare Sawa (Nhật Bản)

7


Mai Gạo

Christine Sinclair (Canada)

Christine Margaret Sinclair OC sinh ngày 12 tháng 6 năm 1983, là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Canada và là đội trưởng của Portland Thorns FC trong Giải bóng đá nữ vương quốc (NWSL) và đội tuyển vương quốc Canada. Trước đây cô đã chơi cho FC Gold Pride và Western New York Flash trong Giải bóng đá chuyên nghiệp nữ (WPS). Một nhà vô địch CONCACAF, hai lần giành huy chương đồng Olympic và 14 lần giành giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Canada, Sinclair là người dẫn đầu trái đất về số bàn thắng quốc tế ghi được chonam hoặc nữ với 186 bàn thắng và là cầu thủ bóng đá quốc tế tích cực nhất với 296 lần khoác áo. Cô cũng là cầu thủ bóng đá thứ hai của cả hai giới ghi bàn tại năm kỳ World Cup, trước Marta.

Đã chơi hơn 20 mùa giải với đội tuyển vương quốc cao cấp, Sinclair đã chơi trong năm Giải vô địch bóng đá nữ trái đất và ba Giải bóng đá Olympic (Bắc Kinh 2008, London 2012, Rio 2016). Cô đã 7 lần lọt vào danh sách Cầu thủ xuất sắc nhất trái đất của FIFA, vào những năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2010, 2012 và 2016. Sinclair đã giành được chức vô địch với ba đội chuyên nghiệp: Vô địch WPS 2010 với FC Gold Pride, Vô địch WPS 2011 với Western New York Flash và Giải vô địch NWSL 2013 và 2017 với Portland Thorns FC. Cô đã giành chức vô địch giải hạng I toàn quốc hai lần, vào năm 2002 và 2005, với ĐH Portland. Năm 2012, cô giành được Lou Marsh Trophy với tư cách là vận động viên của năm của Canada và Giải Bobbie Rosenfeld là nữ vận động viên của năm của Canada. Vào tháng Chín năm 2013, Sinclair được giới thiệu vào Walk of Fame của Canada và trong tháng Sáu năm 2017, bà được bổ nhiệm một cán bộ của Order of Canada bởi Toàn quyền David Johnston.

Christine Sinclair (Canada)
Christine Sinclair (Canada)
Christine Sinclair (Canada)
Christine Sinclair (Canada)

8


Mai Gạo

Nadine Angerer (Đức)

Nadine Marejke Angerer sinh ngày 10 tháng 11 năm 1978, là một thủ môn bóng đá người Đức đã giải nghệ. Ngày 13 tháng 1 năm 2014, cô đoạt giải Quả bóng vàng FIFA giành cho nữ. Cô trở thành nữ thủ môn trước tiên giành được phần thưởng này. Cô hiện là huấn luyện viên thủ môn của câu lạc bộ Portland Thorns của giải NWSL. Angerer đã sinh tại Lohr am Main, cô bắt đầu sự nghiệp bóng đá tại ASV Hofstetten ở vị trí tiền đạo. Cô được phát hiện là một thủ môn tài năng khi tình cờ được thay thế cho một thủ môn chính, bị chấn thương khi cô tham gia giải tranh tài giành cho thanh thiếu niên. Năm 1995, cô chuyển đến 1. FC Nürnberg, một năm sau đó cô đến FC Wacker München. Từ năm 1999 đến năm 2001, Angerer chơi ở Bayern München, cô đã giúp cho đội này đứng đầu giải Bundesliga của Đức. Năm 2001, cô chuyển sang FFC Turbine Potsdam. Cô đoạt hai giải vô địch vương quốc Bundesliga, ba cúp vương quốc của và Cúp UEFA nữ mùa giải 2004 – 2005.

Sau bảy năm tại Potsdam, Angerer rời Đức vào năm 2008 để chơi cho CLB Djurgårdens IF của Thụy Điển. Nhưng cô đã trở về Đức chỉ sau một mùa giải tham gia và về FFC Frankfurt. Ở đây cô đã giành được Cúp vương quốc Đức trong lần thứ thứ tư cùng Frankfurt vào năm 2011. trong những khi tham gia UEFA Euro nữ 2013, Angerer ra mắt cô đã ký hợp đồng chuyển nhượng tự do với Brisbane Roar để chơi ở W-League của Úc. Cô tuyên bố giải nghệ ngày 13 tháng 5 năm 2015. Sau khi bỏ việc học làm kỹ thuật viên sự kiện, Angerer thực tập làm bác sĩ vật lý trị liệu và rút lui khỏi đội tuyển quốccs gia một thời gian trong vòng thời gian 2006 – 2007 để hoàn thành những bài kiểm tra. Angerer phát biểu trên tạp chí Die Zeit vào tháng 12 năm 2010 rằng cô cô không phân biệt giới tính khi suy xét về những mối quan hệ tình cảm.

Nadine Angerer (Đức)
Nadine Angerer (Đức)
Nadine Angerer (Đức)
Nadine Angerer (Đức)

9


Mai Gạo

Kristine Lilly (Mỹ)

Kristine Marie Lilly Heavey sinh ngày 22 tháng 7 năm 1971, nhũ danh Kristine Marie Lilly, là một người Mỹ đã nghỉ hưu bóng đá người chơi sau cuối chơi chuyên nghiệp cho Boston Breakers trong Bóng đá chuyên nghiệp nữ (WPS). Cô ấy là một thành viên của Đội tuyển bóng đá nữ vương quốc Hoa Kỳ trong 23 năm và là giới hạn nhiều nhất cầu thủ bóng đá trong lịch sử của môn thể thao này có lần khoác áo thứ 354 và là trận đấu sau cuối trong trận đấu với Mexico tại vòng loại World Cup vào tháng 11 năm 2010. Lilly đã ghi 130 bàn cho Đội tuyển vương quốc nữ Hoa Kỳ, phía sau Mia Hamm158 bàn thắng, và Abby Wambach184. Lilly tranh tài với tư cách là sinh viên-vận động viên, chơi cho trường ĐH Bóng đá nữ North Carolina Tar Heels đội từ năm 1989 đến năm 1992. Trong thời gian ở đó, cô đã giành được Giải vô địch bóng đá nữ NCAA mỗi năm cô ấy chơi. Cô ấy đã giành được Hermann Trophy là một học viên năm 1991. Là một học viên cuối cấp, cô ấy đã giành được phần thưởng thể thao Honda với tư cách là cầu thủ bóng đá hàng đầu của vương quốc. Để tôn vinh quãng thời gian gắn bó với trường, North Carolina đã cho nghỉ hưu chiếc áo số 15 vào năm 1994.

Lilly bắt đầu sự nghiệp của tôi với Tyresö FF của Thụy Điển vào năm 1994. Cô đã có một mùa giải với câu lạc bộ trước khi trở về Hoa Kỳ. Ngày 20 tháng 8 năm 1995, Lilly tham gia Washington Warthogs của hiện nay không thể tồn tại Giải bóng đá trong nhà lục địa. Cô ấy là người phụ nữ duy nhất trong giải đấu trong nhà chuyên nghiệp toàn nam, theo bước chân của Collette Cunningham và Shannon Presley người đã chơi ở giải đấu một cách khiêm tốn vào năm 1994. Lilly đã tham gia W-League bên Delaware Genies vào năm 1998. Với câu lạc bộ, cô đã xuất hiện trong bốn trận đấu, ghi năm bàn thắng và hai đường kiến tạo. Cô ấy dẫn đầu giải đấu về số pha kiến tạo với 11 pha lập công và ghi thêm 3 bàn thắng. Đối với màn trình diễn của tôi, cô ấy đã được vinh danh là Đội trước tiên của All-WUSA. Năm 2002, cô bắt đầu chơi thêm mười chín trận nữa. Cô ấy đã tăng tổng điểm của tôi trong mùa giải, ghi tám bàn thắng và kiến tạo cho 13 người khác. Cô lại được đặt tên là Đội trước tiên của All-WUSA và là người mở đầu trong Đội All-Star của WUSA miền Bắc. Năm 2003, Lilly bắt đầu toàn bộ mười chín trận đấu mà cô ấy đã chơi, ghi ba bàn thắng và bốn pha kiến tạo và một lần nữa được đặt tên vào First Team All-WUSA, cầu thủ duy nhất trong lịch sử giải đấu làm được như vậy. Sau mùa giải 2003, WUSA ngừng hoạt động.

Kristine Lilly (Mỹ)
Kristine Lilly (Mỹ)
Kristine Lilly (Mỹ)
Kristine Lilly (Mỹ)

10


Mai Gạo

Sun Wen (Trung Quốc)

Sun Wen sinh ngày 6 tháng tư năm 1973 tại Thượng hải, là một Chuyên viên Trung Quốc đã nghỉ hưu bóng đá) người chơi. Trước đây cô ấy đã đội trưởng Đội tuyển bóng đá nữ vương quốc Trung Quốc và Atlanta Beat sau đó Hiệp hội bóng đá nữ United (WUSA). Năm 2000, cô đã giành được Cầu thủ nữ của thế kỷ FIFA cùng với Michelle Akers. Sun đã giành được cả Quả bóng vàng (cầu thủ hàng đầu) và Chiếc giày vàng (vua phá lưới) cho màn trình diễn của cô ấy tại Giải vô địch bóng đá nữ trái đất 1999. Cô ấy được coi là một trong những người vĩ đại nhất mọi thời đại của trò chơi nữ. Sun bắt đầu chơi bóng vào khoảng mười tuổi. Cha của cô, Sun Zonggao, là một cầu thủ bóng đá giải trí, người đã đưa Sun theo ông để xem những trận đấu ở giải nam Trung Quốc. Sun ghi công anh ta vì đã tác động đến việc cô bước vào môn thể thao này.

Sun Wen đã chơi cho Atlanta Beat sau đó Hiệp hội bóng đá nữ United từ năm 2001 đến năm 2002. Cô là người trước tiên được chọn trong Dự thảo nhậm chức của WUSA, nhưng chấn thương đầu gối và mắt cá chân đã giới hạn mùa giải trước tiên của cô với Beat xuống còn 13 trận với năm lần bắt đầu. Trong trận bán kết của giải đấu với Phí Philadelphia, Nhịp đập bị giảm xuống 2 – 0, tuy nhiên, Sun ghi bàn trên một quả phạt đền và sau đó hỗ trợ ghi bàn gỡ hòa bằng một quả phạt góc do công Cindy Parlow. The Beat sẽ tiếp tục giành thắng lợi với tỷ số 3 – 2. Sau đó, cô ấy đã ghi bàn thắng thứ ba của The Beat tại Founders Cup giúp đội giành thắng lợi chung cuộc 3 – 3 trong thời gian quy định. những San Jose CyberRays giành danh hiệu trong loạt sút luân lưu.

Sun Wen  (Trung Quốc)
Sun Wen (Trung Quốc)
Sun Wen  (Trung Quốc)
Sun Wen (Trung Quốc)

Từ khóa: Top 10 Nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Top 10 Nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại, Top 10 Nữ cầu thủ vĩ đại nhất mọi thời đại

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *